Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các bài viết của Vuihecungchocopie.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "vuihecungchocopie". (Ví dụ: công thức giải rubik 3x3 vuihecungchocopie). Tìm kiếm ngay
4 lượt xem

Phan tich hoat dong kinh doanh la gi

Bạn đang xem: Phan tich hoat dong kinh doanh la gi Tại Vuihecungchocopie                        

Bạn đang quan tâm đến Phan tich hoat dong kinh doanh la gi phải không? Nào hãy cùng Vuihecungchocopie đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phát huy tiềm năng các nguồn lực, trên cơ sở đó đề xuất các phương án, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp

Bạn đang xem: Phan tich hoat dong kinh doanh la gi

1. Khái niệm, ý nghĩa và đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh

1.1. Các khái niệm về phân tích kinh doanh

“Phân tích, hiểu một cách khái quát nhất, là sự phân chia sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận tạo nên sự vật, hiện tượng”

“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh; các nguồn lực tiềm năng (dn) mà doanh nghiệp cần phát triển, trên cơ sở đó đưa ra các phương án, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp và các hoạt động Hoạt động Tình huống 2. Trước đây, trong quá trình sản xuất kinh doanh đơn giản, quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin đối với nhà quản lý không nhiều, cũng không phức tạp, công việc phân tích thường được thực hiện tương đối đơn giản, điều này có thể thấy được trong công tác kế toán. Với sự phát triển của sản xuất kinh doanh, nhu cầu về thông tin của các nhà quản lý ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Phân tích hoạt động kinh doanh được hình thành và phát triển như một ngành khoa học riêng biệt nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhà quản lý.

Phân tích là một hoạt động thực tế vì nó luôn đi trước và là cơ sở để ra quyết định. Với tư cách là một môn khoa học, phân tích hoạt động kinh doanh nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đề xuất các giải pháp hữu hiệu cho từng doanh nghiệp.

Vì vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận biết bản chất và tác động của mọi mặt hoạt động kinh doanh, đồng thời là quá trình hiện thực hoá và cải tiến hoạt động kinh doanh một cách có ý thức và có ý thức theo tình hình và yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp. Các quy luật kinh tế khách quan mang lại hiệu quả kinh doanh cao.

1.2. Tầm quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh là một công cụ quan trọng để khám phá các khả năng tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh.

Thông qua việc phân tích hoạt động kinh doanh, chúng ta thấy rõ được nguyên nhân, các yếu tố, nguồn gốc của các nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có được những giải pháp cụ thể, kịp thời trong tổ chức và quản lý sản xuất. Vì vậy, nó là công cụ để hoàn thiện cơ chế quản lý doanh nghiệp.

Phân tích kinh doanh giúp các doanh nghiệp hiểu đúng về khả năng, thế mạnh và hạn chế của doanh nghiệp mình. Chính trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới xác định được đúng đắn mục tiêu và chiến lược kinh doanh hiệu quả của mình.

Phân tích hoạt động kinh doanh là một công cụ quan trọng trong chức năng quản lý và là cơ sở để đưa ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, đặc biệt là trong kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động. Sxkd động trong dn.

Phân tích hoạt động kinh doanh là một biện pháp quan trọng để phòng ngừa và đề phòng những rủi ro có thể xảy ra.

Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh cũng rất cần thiết đối với các bên bên ngoài khi họ có mối quan hệ kinh doanh, nguồn lực với dn, vì thông qua phân tích họ có thể đưa ra quyết định đúng đắn. Hợp tác, đầu tư, vay vốn … để kinh doanh?

1.3. Đối tượng Phân tích Kinh doanh

Là một môn khoa học riêng biệt, phân tích kinh doanh có đối tượng riêng:

“Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh và sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả, thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế” 3.

Kết quả kinh doanh mà chúng ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng lẻ như kết quả thu mua, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng … hoặc kết quả tổng hợp của cả quá trình. Kết quả kinh doanh, tài chính, v.v.

Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta tập trung vào phương hướng, mục tiêu, kế hoạch và kết quả của việc thực hiện kế hoạch.

Kết quả kinh doanh thường được thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế. Mục tiêu là định nghĩa về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội dung chính của phân tích thành tích là phân tích kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong giai đoạn hiện tại như doanh thu bán hàng, giá trị sản lượng, giá vốn, lợi nhuận …

Tuy nhiên, khi phân tích kết quả kinh doanh, chúng ta phải luôn kết hợp chặt chẽ các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như lao động, nguyên vật liệu, vốn, diện tích, đất đai, v.v. Ngược lại, các chỉ tiêu chất lượng phản ánh hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu quả sử dụng các yếu tố của doanh nghiệp như chi phí, tỷ suất chi phí, lợi nhuận, năng suất lao động, v.v.

Tùy thuộc vào mục đích phân tích, chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác nhau, đó là: chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu trung bình. Một tiêu chuẩn số tuyệt đối để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hoặc điều kiện kinh doanh. Một tiêu chuẩn số tương đối để phân tích các mối quan hệ, mối quan hệ cấu trúc, mối quan hệ tỷ lệ và xu hướng giữa các bộ phận. Các chỉ số trung bình phản ánh mức độ phổ biến của một hiện tượng.

Tùy thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng của phân tích, các tiêu chí về loại, giá trị hoặc thời gian có thể được sử dụng. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường sử dụng thước đo giá trị. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và các doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng vẫn sử dụng kết hợp các tiêu chuẩn vật chất bên cạnh tiêu chuẩn giá trị. Trong phân tích, cũng cần phân biệt giữa số liệu và giá trị của chỉ số. Chỉ tiêu có nội dung kinh tế tương đối ổn định, giá trị chỉ tiêu luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm cụ thể.

Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ giới hạn trong việc đánh giá kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu vào các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh được thể hiện qua các chỉ tiêu đó. Nói một cách khái quát nhất, các yếu tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, quá trình,… và mỗi biến động của nó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu kết quả được các yếu tố này thể hiện ở một mức độ nhất định.

Ví dụ: doanh thu bán hàng phụ thuộc vào khối lượng bán, giá bán và cơ cấu tiêu thụ. Đến lượt mình, số lượng hàng hóa bán ra, giá cả hàng hóa và cơ cấu hàng hóa chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài, v.v.

Theo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, chúng ta có thể phân loại nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng thành nhiều loại khác nhau từ các góc độ khác nhau.

Trước hết, theo mức độ cần thiết của các yếu tố: có thể chia thành hai loại: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.

Yếu tố khách quan là yếu tố xuất hiện thường xuyên và là yêu cầu không thể tránh khỏi, không phân biệt chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh. Kết quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân khách quan và các yếu tố như sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, chính sách kinh tế – xã hội của quốc gia, môi trường, môi trường, hiện trạng kinh tế – xã hội, tiến bộ công nghệ. và ứng dụng. Những yếu tố này dẫn đến sự thay đổi của giá hàng hóa, giá vốn và giá dịch vụ, cũng như thay đổi về thuế suất, lãi suất, mức lương, v.v.

Yếu tố chủ quan là những yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu và phụ thuộc vào nỗ lực hoạt động kinh doanh của đối tượng. Các nhân tố như: trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ phát triển của các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp, mức độ thời gian lao động, số lượng hàng hoá, cơ cấu xí nghiệp, mặt hàng .. .etc.

Theo tính chất của các yếu tố, có thể chia thành nhóm yếu tố định lượng và nhóm yếu tố chất lượng.

Các yếu tố định lượng phản ánh quy mô của doanh nghiệp như: số lượng lao động, nguyên vật liệu, số lượng hàng hóa sản xuất và tiêu thụ … Ngược lại, các yếu tố định tính thường phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như: chi phí, tỷ suất chi phí, năng suất lao động … Phân tích hoạt động kinh doanh dựa trên định lượng và Kết quả của các yếu tố định tính vừa giúp đánh giá chất lượng, phương hướng kinh doanh, vừa giúp xác định thứ hạng. Sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh.

Mọi người có xu hướng được chia thành các nhóm yếu tố tích cực và tiêu cực dựa trên xu hướng của các yếu tố.

Yếu tố tích cực là yếu tố ảnh hưởng tích cực hoặc làm tăng quy mô hoạt động kinh doanh và ngược lại, yếu tố tiêu cực là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực hoặc làm giảm quy mô kết quả hoạt động kinh doanh. Trong phân tích, xu hướng và tác động tổng hợp của các yếu tố tích cực và tiêu cực cần được xác định.

Có nhiều loại yếu tố, như đã đề cập trước đó, nhưng trong trường hợp nội dung kinh tế, có hai loại: đó là điều kiện kinh doanh và đó là kết quả kinh doanh. Số lượng lao động, số lượng hàng hóa, số lượng nguyên vật liệu, tiền vốn,… là những yếu tố thuộc về điều kiện hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động. Các nhân tố thuộc kết quả kinh doanh ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình kinh doanh từ khâu cung ứng nguyên vật liệu đến tổ chức quá trình sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm, từ đó ảnh hưởng đến kết quả chung của doanh nghiệp. cuộn.

Vì vậy, tính phức tạp và đa dạng của nội dung phân tích được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh. Việc xây dựng hệ thống chỉ số tương đối hoàn chỉnh, phân biệt các hệ thống chỉ số khác nhau, phân loại các nhân tố ảnh hưởng từ các góc độ khác nhau không chỉ có lợi cho việc đánh giá toàn diện kết quả của doanh nghiệp mà còn là sự cố gắng của bản thân doanh nghiệp.

Phân tích kết quả kinh doanh được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế dưới tác động của các nhân tố chỉ là một quá trình “định tính”, cần phải lượng hoá các chỉ tiêu và các nhân tố thành các giá trị số và xác định chúng với một mức độ biến động nhất định. Để làm được công việc cụ thể này cần phải nghiên cứu các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh chung.

Xem Thêm: Hiệu quả kinh doanh

2. Phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh

2.1. Phương pháp so sánh

So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh. Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích là so sánh các chỉ tiêu định lượng với các hiện tượng kinh tế có cùng nội dung, tính chất giống nhau để xác định xu hướng biến động và mức độ biến động của các chỉ tiêu. Nó cho phép ta tổng hợp những nét chung của hiện tượng kinh tế, tách những nét riêng của hiện tượng kinh tế để so sánh, trên cơ sở đó đánh giá những mặt phát triển hay chưa phát triển, hiệu quả hay chưa hiệu quả, tìm ra giải pháp quản lý tối ưu cho từng tình huống cụ thể. Vì vậy, để so sánh, cần thực hiện những điều cơ bản sau:

2.1.1 Lựa chọn tiêu chí so sánh

Chuẩn mực so sánh là tiêu chuẩn được chọn làm cơ sở để so sánh, được gọi là kỳ gốc so sánh. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chọn một kỳ gốc thích hợp để so sánh. Nguồn gốc có thể có của sự so sánh là:

Một tài liệu từ năm trước (kỳ trước hoặc chương trình) để đánh giá xu hướng của các chỉ số. Mục tiêu mong đợi (kế hoạch, dự báo, thông số kỹ thuật) để đánh giá hiệu suất so với kế hoạch, dự báo và thông số kỹ thuật.

Các chỉ số trung bình của ngành, lĩnh vực kinh doanh; nhu cầu hoặc đơn đặt hàng của khách hàng … để xác nhận vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

Mục tiêu thời kỳ được chọn để so sánh với kỳ gốc được gọi là mục tiêu thời kỳ hoạt động và là kết quả kinh doanh đạt được.

2.1.2 Điều kiện so sánh

Để phương pháp này có ý nghĩa, các tiêu chí được sử dụng trong phép so sánh phải giống nhau. Trong thực tế, không chỉ cần quan tâm đến thời gian, không gian của các chỉ tiêu mà còn phải quan tâm đến điều kiện so sánh giữa các chỉ tiêu kinh tế

Về thời gian: là chỉ tiêu được tính trong cùng một kỳ kế toán và phải thống nhất trên 3 phương diện sau:

Phải phản ánh cùng một nội dung kinh tế.

Các điều kiện phải sử dụng cùng một phương pháp tính toán.

Phải ở cùng một đơn vị đo lường.

Khi so sánh theo không gian: Các tiêu chí cần thiết để phân tích cần phải được dịch sang cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự.

2.1.3 Kỹ thuật so sánh

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các kỹ thuật so sánh sau đây thường được sử dụng:

So sánh bằng số tuyệt đối:

Xem thêm: Pic (Person In Charge): Tugas, Dan Skill Yang Dibutuhkan, Pic (Person In Charge): Pengertian Serta Skill

Số tuyệt đối: số thể hiện quy mô và số lượng của các chỉ tiêu kinh tế

Đây thường được gọi là giá trị của một chỉ số kinh tế. Nó là cơ sở để tính toán các loại thước đo khác.

So sánh số tuyệt đối: Là sự so sánh các giá trị chỉ tiêu kinh tế giữa kỳ phân tích và kỳ gốc. Sự so sánh thể hiện sự biến động về số lượng và quy mô của các hiện tượng kinh tế.

So sánh biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô tổng thể: được xác định bằng kết quả so sánh giữa giá trị kỳ phân tích và giá trị kỳ gốc sau khi điều chỉnh hệ số chỉ số tương quan của quy mô tổng thể theo hướng.

Công thức:

Độ biến động tương đối = chỉ số thời kỳ phân tích – chỉ số thời kỳ gốc x hệ số điều chỉnh

So sánh các số tương đối:

Có nhiều loại số tương đối, tùy theo nhu cầu phân tích mà sử dụng chúng cho phù hợp:

+ Số tiền tương đối của Kế hoạch hoàn thành theo tỷ lệ:

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tương đối là kết quả của việc chia giá trị kỳ phân tích của chỉ tiêu kinh tế cho giá trị kỳ gốc. Nó phản ánh tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của các mục tiêu kinh tế.

Số lượng hoàn thành theo kế hoạch tương đối = mục tiêu thời kỳ phân tích / mục tiêu thời kỳ gốc x 100%

So sánh số lượng tương đối của kế hoạch hoàn thành là so sánh kết quả được tính toán với 100%.

+ Trung bình Động:

Thể hiện tốc độ thay đổi của các chỉ tiêu kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Nó được tính toán bằng cách so sánh chỉ tiêu kỳ phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc. Các chỉ tiêu thời kỳ gốc có thể cố định hoặc liên tục, tùy thuộc vào mục đích phân tích. Nếu kỳ gốc được cố định, nó sẽ phản ánh sự phát triển của các chỉ tiêu kinh tế trong dài hạn. Nếu kỳ gốc liên tục phản ánh sự phát triển của các chỉ tiêu kinh tế trong hai kỳ liên tiếp.

2.2. Loại trừ

Trong phân tích hoạt động kinh doanh, để có cơ sở đánh giá và nhận xét đúng đắn, câu hỏi quan trọng và rất thú vị cần nghiên cứu là nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng, định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến kết quả kinh doanh. Phương pháp thường được sử dụng để định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là phương pháp loại trừ.

Loại trừ là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố riêng lẻ đến kết quả kinh doanh, bằng cách xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này, loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác. Ví dụ: khi phân tích mục tiêu tổng doanh số sản phẩm, có thể quy ra ảnh hưởng của hai yếu tố:

Số lượng hàng hóa bán ra được tính bằng đơn vị tự nhiên (miếng, miếng …) hoặc đơn vị trọng lượng (tấn, tạ, kilôgam …).

Giá bán của một đơn vị hàng tiêu dùng được biểu thị bằng đơn vị tiền tệ.

Cả hai yếu tố trên đều ảnh hưởng đến tổng doanh thu, nhưng để xác định ảnh hưởng của yếu tố này, yếu tố kia phải được loại trừ. Bạn có thể làm điều này theo hai cách:

Cách thứ nhất: Có thể thay thế lần lượt tùy theo ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, phương pháp này được gọi là phương pháp “thay thế liên tục”.

Phương pháp thứ hai: Bạn có thể nhập trực tiếp biến động của từng yếu tố, được gọi là phương pháp “chênh lệch”.

2.2.1 Phương pháp thay thế tuần tự

Sử dụng phương pháp “thay thế liên tục”, chúng ta có thể xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố bằng cách thay thế liên tục nhân tố, để xác định giá trị chỉ số khi nhân tố thay đổi. Khi thực hiện phương pháp này, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thiết lập mối quan hệ toán học giữa các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chuẩn phân tích từ yếu tố định lượng đến yếu tố định tính theo một thứ tự nhất định; nếu có thêm yếu tố định lượng hoặc định tính thì yếu tố chính được xếp trước yếu tố phụ.

Thay theo trình tự, trước hết thay yếu tố số lượng, sau đó thay yếu tố chất lượng; nếu thay yếu tố thì lấy giá trị thực tế; nếu không thay yếu tố thì giữ nguyên kỳ gốc; yếu tố đã được thay thì lấy giá trị thực và tính toán giá trị thay thế cho mỗi lần thay thế; Trừ kết quả của lần thay thế cuối cùng khỏi kết quả tính toán, chúng ta có thể xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố này (so sánh kết quả của lần thay thế cuối cùng của lần thay thế đầu tiên với kết quả ban đầu Giai đoạn).

Tổng đại số mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố phải bằng đối tượng phân tích (chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc).

Các nguyên tắc trên có thể được chia thành các bước sau:

Bước đầu tiên: Xác định mục tiêu phân tích: Là phân tích sự khác biệt giữa mục tiêu chu kỳ và mục tiêu chu kỳ ban đầu.

Nếu gọi a1 là chỉ tiêu của kỳ phân tích và a0 là chỉ tiêu của kỳ gốc thì đối tượng phân tích được xác định là: a1 – a0 = a

Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí phân tích:

Giả sử có 3 nhân tố ảnh hưởng: a, b, c đều có quan hệ sản phẩm với tiêu chuẩn phân tích a thì theo nguyên tắc đề xuất, nhân tố a phản ánh số lượng thứ tự phản ánh chất lượng đối với c, ta có thể xác lập mối quan hệ sau:

p>

a = một. Thứ hai. c

Kỳ phân tích: a1 = a1.b1.c1 Kỳ gốc: a0 = a0.b0.c0

Bước 3:

Thay thế các yếu tố trong kỳ phân tích trong kỳ gốc theo thứ tự ở bước 2.

Thay thế đầu tiên: a1.b0.c0

Thay thế thứ hai: a1.b1.c0

Thay thế thứ ba: a1.b1.c1

Lần thay thế cuối cùng là khi nhân tố trong phân tích được thay thế bằng tất cả các nhân tố từ kỳ gốc. Vì vậy, có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến số lượng thay thế.

Bước 4:

Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích và bằng cách lấy kết quả thay thế trước trừ đi kết quả của lần thay thế trước, ta có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả của lần thay thế trước). Lần thay thế trước và lần thay thế đầu tiên liên quan đến thời kỳ gốc) Cụ thể:

+ Ảnh hưởng của yếu tố a: a1.b0.c0 – a0.b0.c0 = aa

+ Ảnh hưởng của yếu tố b: a1.b1.c0 – a1.b0.c0 = ab

+ Ảnh hưởng của yếu tố c: a1.b1.c1 – a1.b1.c0 = ac

Tổng đại số của các thừa số: aa + ab + ac = a

2.2.2 Phương pháp khác biệt

Xem thêm: Truong hoc than thien hoc sinh tich cuc la gi

Phương pháp chênh lệch là một trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên tục, phương pháp này tuân thủ đầy đủ các bước giống như phương pháp thay thế liên tục. Nó khác ở chỗ sử dụng hiệu số giữa kỳ phân tích và kỳ gốc của từng nhân tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích:

+ Ảnh hưởng của yếu tố a: = (a1-a0) .b0.c0

+ Ảnh hưởng của hệ số b: = a1. (b1 -b0) .c0

+ Ảnh hưởng của yếu tố c: = a1.b1. (c1-c0)

2.3. Liên hệ

Tất cả các kết quả kinh doanh đều có mối quan hệ qua lại với nhau, giữa các cạnh, giữa các bộ phận … Để lượng hóa các mối quan hệ này, ngoài các phương pháp nêu trên, chúng còn được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh. Các phương pháp liên hệ như: quan hệ cân bằng, quan hệ tuyến tính và phi tuyến … vv.

2.3.1 Phương pháp liên hệ cân bằng

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhiều mối quan hệ cân đối được hình thành. Cân bằng là hai mặt của quá trình kd, lượng cân bằng giữa các nguyên tố. Ví dụ, giữa tài sản và vốn kinh doanh, giữa thu nhập và nguồn chi tiêu, giữa nhu cầu vốn và khả năng thanh toán, giữa huy động và sử dụng tư liệu vào sản xuất.

Các phương pháp lập kế hoạch có liên quan và thậm chí định lượng các yếu tố và tác động của các yếu tố. Số dư được sử dụng rộng rãi trong việc chuẩn bị và cấu trúc kế toán để nghiên cứu các mối quan hệ trong quá trình kinh doanh. Trên cơ sở mô tả có thể được xác định, chúng tôi sử dụng bảng cân đối kế toán

2.3.2 Liên hệ Trực tuyến

Có một mối quan hệ định hướng nhất định giữa các tiêu chuẩn phân tích, chẳng hạn như doanh thu tỷ lệ thuận với doanh thu và giá bán, lợi nhuận tỷ lệ thuận với giá cả, thuế … Trong mối quan hệ trực tiếp này, theo mức độ theo mối quan hệ giữa các chỉ số Sự phụ thuộc có thể được chia thành hai loại mối quan hệ chính:

Mối quan hệ gián tiếp: Đó là mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn và mức độ phụ thuộc giữa chúng được xác định bằng các hệ số riêng biệt. Trường hợp cần thực hiện thống kê nhiều lần trên số liệu để đảm bảo độ chính xác của mối quan hệ thì hệ số được xác định theo công thức chung của hệ số tương quan.

Phương pháp quan hệ phi tuyến

là mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, trong đó mức độ của mối quan hệ không theo tỷ lệ và chiều hướng của mối quan hệ luôn thay đổi: mối quan hệ giữa năng suất, sản lượng cây lâu năm (cao su, cà phê) và số năm phát triển , về lượng phân bón và năng suất cây trồng, giữa số vốn sử dụng và tỷ suất lợi nhuận trên vốn …

Trong những trường hợp này, mối quan hệ giữa tiêu chí phân tích (hàm) và các yếu tố (biến) thường ở dạng hàm lũy thừa. Các thuật toán khác nhau như logarit, bảng tương quan và phương trình bình thường được sử dụng để đơn giản hóa các hàm tuyến tính và sự khác biệt về chức năng của phân tích toán học cũng có thể được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến sự biến động của chất phân tích. Tuy nhiên, các mối quan hệ phức tạp này chỉ được sử dụng để phân tích đối tượng hoặc phân tích đồng thời các yêu cầu quản lý.

2.4. Phương pháp chi tiết

Phương pháp cụ thể như sau:

Chi tiết theo các thành phần của đặc điểm kỹ thuật

Tiêu chí chi tiết cho các thành phần và đại diện định lượng của các thành phần này sẽ giúp đánh giá chính xác kết quả đạt được. Do đó, phương pháp tiếp cận chi tiết theo bộ phận được sử dụng rộng rãi để phân tích các khía cạnh khác nhau của kết quả kinh doanh.

Thông tin chi tiết theo thời gian

Kết quả kinh doanh luôn là kết quả của các quá trình. Tiến độ của quá trình trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đồng đều vì nhiều lý do chủ quan hoặc khách quan khác nhau, ví dụ giá trị đầu ra của sản phẩm trong hoạt động sản xuất thường phải hoàn thành. Từng tháng từng tháng, từng mùa, nói chung là khác nhau. Trong kinh doanh cũng vậy, doanh số mua và doanh số bán ra không bằng nhau theo từng thời điểm trong năm.

Theo thời gian, công tác chi tiết giúp đánh giá nhịp độ, tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh trong các thời kỳ, từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, phân tích chi tiết theo thời gian cũng giúp chúng ta nghiên cứu nhịp điệu của các chỉ tiêu liên quan, chẳng hạn như: số lượng hàng hóa mua vào, số lượng hàng tồn kho và doanh thu; số vốn được cấp (huy động) để xây dựng Công việc hoàn thành; Sự phân bố số lượng vật tư, sản phẩm …

Chi tiết theo vị trí và ngành nghề kinh doanh

Kết quả sản xuất, hoạt động của xí nghiệp do các phòng ban, phân xưởng, tổ, nhóm sản xuất … hoặc các nông trường, xí nghiệp trực thuộc xí nghiệp hoàn thành.

Thông qua các tiêu chuẩn hợp đồng khác nhau, chẳng hạn như: hợp đồng doanh thu, hợp đồng chi phí, hợp đồng hợp đồng và các bộ phận khác, đánh giá xem mức độ hợp đồng có hợp lý hay không và việc thực hiện các quy cách hợp đồng của từng bộ phận như thế nào. Bằng cách này, chúng ta có thể phát hiện ra những bộ phận tiên tiến và lạc hậu trong việc thực hiện các mục tiêu, đồng thời khai thác tiềm năng của các yếu tố sản xuất và vận hành. Phân tích chi tiết theo địa bàn giúp chúng tôi đánh giá kết quả hạch toán kinh tế nội bộ.

3. Trình tự Tiến hành Phân tích Hợp đồng Thương mại

3.1. Các loại phân tích kinh doanh

3.1.1 Dựa trên giờ

Theo giờ làm việc, phân tích được chia thành ba dạng:

Phân tích trước khi bán hàng

Phân tích kinh doanh

Phân tích sau khi kết thúc quy trình kinh doanh

Phân tích trước khi kinh doanh, còn được gọi là phân tích tương lai, được sử dụng để dự báo, dự đoán các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai. Phân tích tương lai có rất nhiều ứng dụng và có thể áp dụng cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Vì trong cơ chế thị trường, tất cả các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của doanh nghiệp đều phải tự tính toán nên phải sử dụng các phương pháp phân tích tương lai để hiểu được sự biến động của thị trường, từ đó lập các mục tiêu hoạch định.

Phân tích trong kd, còn được gọi là phân tích hiện tại (hoặc hoạt động), là một thủ tục phân tích được thực hiện cùng với thủ tục kd.

Biểu mẫu này lý tưởng để kiểm tra định kỳ chức năng nhằm sửa chữa những sai lệch lớn giữa kết quả hiệu suất và mục tiêu đã đặt.

Phân tích sau khi quy trình kinh doanh kết thúc còn được gọi là phân tích quá khứ. Quá trình phân tích này được thiết kế để đánh giá định kỳ hiệu suất so với kế hoạch hoặc các chỉ tiêu đã thiết lập và để xác định điều gì ảnh hưởng đến những kết quả đó. Kết quả phân tích cho phép chúng tôi hiểu được các mục tiêu đã thiết lập đang được thực hiện tốt như thế nào và cung cấp cơ sở để lập kế hoạch cho các bước tiếp theo.

3.1.2 Báo cáo dựa trên thời gian

Nó được chia thành phân tích định kỳ và phân tích định kỳ theo thời gian lập báo cáo phân tích.

Phân tích định kỳ được thiết lập trong quá trình kinh doanh. Kết quả phân tích giúp phát hiện ngay những sai lệch của các chỉ tiêu kinh tế so với mục tiêu và giúp doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh, khắc phục thường xuyên.

Phân tích định kỳ sau mỗi chu kỳ kinh doanh, hoàn thành với báo cáo cho giai đoạn đó, thường là hàng quý, 6 tháng một lần hoặc hàng năm. Phân tích chu kỳ được thực hiện sau khi kết thúc quá trình kinh doanh, kết quả phân tích được dùng để đánh giá kết quả kinh doanh của từng chu kỳ, là cơ sở để hình thành mục tiêu kế hoạch của chu kỳ tiếp theo.

3.1.3 Dựa trên phân tích

Theo nội dung phân tích, nó được chia thành phân tích tiêu chuẩn chung và phân tích đặc biệt

Phân tích chỉ số tổng hợp (phân tích đầy đủ): Là tổng hợp tất cả các phân tích kinh tế và đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các mặt của kết quả kinh doanh và tác động của các yếu tố, nguyên nhân bên ngoài.

Phân tích theo chủ đề hoặc phân tích phân đoạn, là sự tập trung vào một số yếu tố trong quy trình kinh doanh ảnh hưởng đến các số liệu tổng hợp. Ví dụ như các yếu tố như sử dụng lao động, sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất, sử dụng kinh phí… Phân tích chuyên đề cũng có thể là phân tích một phía, một quá trình kinh doanh trong một phạm vi nhất định. Ví dụ: ở bộ phận quản lý sản xuất, cửa hàng, bộ phận thuộc chức năng quản lý để đánh giá việc thực hiện chức năng quản lý của bộ phận đó.

Tóm lại, việc xác lập nội dung phân tích phải dựa trên các yêu cầu và mục tiêu của quá trình quản lý vận hành sản xuất đã đề ra. Vì vậy, cần phải làm rõ mục tiêu phân tích và lựa chọn loại hình phân tích hiệu quả và thiết thực nhất.

3.2. Thứ tự phân tích

Việc phân tích hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình, điều kiện, quy mô kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Vì vậy cần lập tổ chức phân tích hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với dn.

Tổ chức phân tích kinh doanh, thường theo ba bước:

Bước đầu tiên là chuẩn bị cho phân tích

Bước thứ hai là phân tích

Kết quả phân tích và đánh giá toàn diện ở bước thứ ba

Nội dung của ba bước trên tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu và phạm vi phân tích. Cả ba bước này đều có quan hệ nhân quả nên nếu thực hiện không tốt một trong ba bước trên sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phân tích.

Lập quy trình phân tích, kế hoạch phân tích. Theo mục đích, yêu cầu của doanh nghiệp, xác định nội dung phân tích, thời gian phân tích, nhân sự liên quan, tài liệu cần phân tích,… và phân tích tính hợp pháp, hợp lý của tài liệu.

Việc phân tích dựa trên việc phân tích tài liệu, xác định đối tượng phân tích, sử dụng đối tượng phân tích riêng để chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, phân loại các yếu tố. Theo nhiều tiêu chí khác nhau để tiện cho việc đánh giá đúng kết quả kinh doanh của dn.

Cuối cùng, trên cơ sở kết quả phân tích trên, cần tổng kết, đánh giá thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ những mặt hạn chế trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Do đó, các biện pháp được đưa ra nhằm khắc phục những điểm yếu, nâng cao lợi thế và khai thác những khả năng tiềm ẩn để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Trên đây là bài viết Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh doanh nghiệp, mong rằng sẽ hữu ích cho luận văn của bạn.

Xem thêm: Odo là gì? Kiểm tra Odo khi mua xe có chính xác không?

Các tìm kiếm có liên quan: Phân tích Kết quả Kinh doanh, Phân tích Cơ bản, Phân tích Định lượng Kinh doanh, Phân tích Báo cáo Thu nhập, Phân tích Kết quả Kinh doanh, Các Bài báo Phân tích Kinh doanh

Công khai: VUIHECUNGCHOCOPIE.VN là trang web Tổng hợp Ẩm Thực - Game hay và Thủ Thuật hàng đầu VN, thuộc Chocopie Vietnam. Mời thính giả đón xem.

Chúng tôi trân trọng cảm ơn quý độc giả luôn ủng hộ và tin tưởng!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *