Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các bài viết của Vuihecungchocopie.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "vuihecungchocopie". (Ví dụ: công thức giải rubik 3x3 vuihecungchocopie). Tìm kiếm ngay
12 lượt xem

Văn bản dưới luật là gì? Phân biệt giữa văn bản luật và văn bản dưới luật?

Bạn đang quan tâm đến Văn bản dưới luật là gì? Phân biệt giữa văn bản luật và văn bản dưới luật? phải không? Nào hãy cùng Vuihecungchocopie đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Hiện tại, các văn bản dưới luật bao gồm: Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Nghị định, Quyết định, Thông báo. Trong đó:

Sắc lệnh là một văn bản dưới luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, quy định các vấn đề do Quốc hội phân bổ. Các quan hệ xã hội quan trọng và cơ bản thường được quy định và điều chỉnh bởi các đạo luật, nhưng không được quy định chi tiết trong luật hoặc Quốc hội. Nghị định được ban hành trong một thời gian có thể được coi là một văn bản quy phạm pháp luật.

Bạn đang xem: Văn bản dưới luật là gì

Về giá trị pháp lý, văn bản dưới luật có hiệu lực pháp luật theo hiến pháp và các văn bản dưới luật. Nghị định khi ban hành phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội tán thành và khi Chủ tịch nước ký ban hành nghị định mới có hiệu lực thi hành. (trước 15 ngày kể từ ngày nhận con nuôi).

Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật xác định nội dung cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội, được ban hành sau khi được đa số nhân dân thảo luận và biểu quyết. Nghị quyết được quy định trong Hiến pháp được thể hiện dưới dạng văn bản của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chính phủ, Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban nhân dân các cấp và Uỷ ban nhân dân các cấp.

Về vấn đề này, có hai quan điểm trái ngược nhau về việc liệu một nghị quyết là một văn bản giống luật hay được coi là một văn bản dưới luật.

Quan điểm thứ nhất cho rằng nghị quyết của Quốc hội là văn bản “tương đương với luật”. Quan điểm này có thể giải thích hai tình huống mà các nghị quyết được ban hành:

Nghị quyết được sử dụng để phê chuẩn các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Nói chung, pháp luật Việt Nam tôn trọng điều ước quốc tế, đã trở thành nguyên tắc của mọi luật: đối với điều ước quốc tế do nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng điều ước quốc tế. Từ đó suy ra giá trị của điều ước quốc tế không được thấp hơn giá trị của điều ước quốc tế. Vì vậy, giá trị pháp lý của các văn bản dùng để phê chuẩn điều ước quốc tế không thể kém hơn luật. Vì vậy, trong trường hợp này, nghị quyết của Quốc hội có thể được coi là văn bản “có giá trị như pháp luật”. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006 / qh11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư để Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (wto), và các phụ lục bao gồm các tài liệu sau: các cam kết liên quan đến “Luật Luật sư” và các quy định pháp luật khác năm 2008 …

Nghị quyết cũng được sử dụng để quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Trên thực tế, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 51/2001 / Qh10 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở vbqppl chỉ được sử dụng chính cơ quan nhà nước của vbqppl đã ban hành văn bản đó (Luật bhvbqppl 1996) Điều 9; Đạo luật bhvbqppl Điều 1 § 9).

Xem thêm: Thị trường mở (Open market) là gì? Cách thức vận hành thị trường mở

Tuy nhiên, nếu coi nghị quyết là một văn bản có giá trị pháp lý tương đương với luật thì vẫn còn một số điều chưa thỏa đáng vì:

Đầu tiên, cách giải thích trên gián tiếp xác lập giá trị của tài liệu và cơ quan ban hành. Nếu hiến pháp là luật và nghị quyết là văn bản “ngang bằng với luật”, điều đó chứng tỏ quyền lực của nghị viện đưa ra ba loại văn bản về cơ bản là như nhau. Điều này thực ra không hợp lý, vì Quốc hội có nhiều chức năng: Quốc hội lập hiến, Quốc hội lập pháp và Quốc hội lập pháp. Khi làm luật, Quốc hội lập pháp phải tuân theo Hiến pháp của Quốc hội lập hiến đã được thông qua trước đó.

Thứ hai, việc coi nghị quyết như một văn bản tương đương với luật có thể mang lại một số khó khăn cho việc áp dụng luật vì không thể xác định được thứ bậc pháp lý giữa luật và nghị quyết. Theo hướng xây dựng cơ chế bảo vệ hiến pháp, nếu một nghị quyết trái luật thì sẽ giải quyết như thế nào?

Thứ ba, nói chung, các nghị quyết của Quốc hội được quy định trong hầu hết các trường hợp bởi các nhóm quan hệ xã hội, tuy quan trọng nhưng không cơ bản và bao trùm như luật. Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu các tài liệu hiện có, chúng tôi không tìm thấy bất kỳ tài liệu nào xác nhận rằng các nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý tương đương với luật, mặc dù có một số mối quan hệ quy định “mang tính luật lệ”.

Thứ tư, mặc dù theo luật bhvbqppl, các văn bản của Quốc hội (hiến pháp, luật, nghị quyết) phải do Chủ tịch nước ban hành, nhưng trên thực tế không phải nghị quyết nào của Quốc hội cũng giống nhau. chủ tịch.

Thứ năm, có thể nói một cách đơn giản rằng hiến pháp và pháp luật là những văn bản trực tiếp ban hành cho toàn dân, vì vậy trong nhiều trường hợp, nghị quyết của Đại hội là văn bản để ổn định công việc, tổ chức hoạt động cơ cấu của Quốc hội .. …. nên chủ yếu ảnh hưởng gián tiếp đến người dân.

Quan điểm thứ hai cho rằng nghị quyết là văn bản dưới luật. Điều này thể hiện rõ trong trường hợp thực sự ban hành nghị quyết.

Thứ nhất, các quan hệ xã hội do nghị quyết quy định trong nhiều trường hợp là các quan hệ dưới luật, ví dụ: việc ban hành nghị quyết nhằm xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước. ; nghị quyết được sử dụng để ổn định Quốc hội và hệ thống công việc của các cơ quan trực thuộc, ví dụ: quy định hệ thống công việc của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban dân tộc và các ủy ban khác. Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội.

Xem thêm: Web chuẩn SEO là gì? 14 Tiêu chí thiết kế website chuẩn SEO 2022

Nội dung của nghị quyết được phản ánh trong nội dung mà nó điều chỉnh. Đồng thời, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chủ yếu điều chỉnh các nhóm quan hệ cơ bản trong xã hội, là cơ sở để tổ chức bộ máy nhà nước và các lĩnh vực hoạt động của nhà nước. Về nội dung, pháp luật chứa đựng những quy phạm “gốc”, tức là những quan hệ cơ bản của hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế, quan hệ giữa nhà nước và công dân … Vì vậy, tất cả các văn bản sau đây đều phải có quy định của pháp luật. phù hợp với các văn bản pháp luật.

Thứ hai, nghị quyết của Quốc hội được sử dụng để hướng dẫn thi hành luật. Ví dụ: Nghị quyết số 56/2010 / qh12 của Quốc hội ngày 14 tháng 11 năm 2010 về việc chỉ đạo thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

Thứ ba, các nghị quyết có tư cách pháp lý phụ về hình thức, trình tự và thủ tục thông qua. Các văn bản pháp luật có trình tự ban hành rất chặt chẽ, chẳng hạn như việc thiết lập các thủ tục lập pháp (mục 22 đến 29 của Đạo luật bhvbqppl); các nghị quyết không yêu cầu khoảng thời gian này.

Thứ tư, nếu sử dụng nghị quyết để phê chuẩn điều ước quốc tế dựa trên bản chất của “vụ việc” thì văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ thẩm quyền và điều kiện phê chuẩn điều ước quốc tế. Ví dụ, Nghị quyết của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư Hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải căn cứ vào pháp luật để ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế.

Tuy nhiên, quan điểm trên cũng gặp một số hạn chế trước thực tiễn lập hiến hiện nay. Mặc dù hiến pháp nước ta không ghi rõ tên văn bản dùng để bổ sung, sửa đổi hiến pháp, nhưng trên thực tế, nghị quyết 51/2001 / Qh10 của Quốc hội khóa X ngày 25 tháng 12 năm 2001 đã làm được điều đó. .

Về mặt luật học, chỉ vbqppl có giá trị pháp lý bằng hoặc cao hơn vbqppl trước đó mới có thể sửa đổi, bổ sung văn bản trước đó. Như vậy, nghị quyết có giá trị pháp lý “ngang bằng hoặc cao hơn Hiến pháp”. Đây là một sự vi phạm rõ ràng tất cả các cơ sở hiến pháp và pháp lý hiện hành. Rõ ràng, nghị quyết không thể được coi là một dạng văn bản có giá trị “thượng tôn pháp luật”, vì nó vi phạm tính tối cao của Hiến pháp; cũng như không thể coi nghị quyết là “ngang hàng với Hiến pháp”, vì nó không được coi là “thượng tôn pháp luật” là những từ đồng nghĩa.

Nghị định là văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật đặc biệt do chủ tịch nước ban hành bởi người đứng đầu cơ quan nhà nước hoặc cơ quan hành pháp. Hiện nay, ở một số quốc gia, các sắc lệnh có thể được ban hành bởi tổng thống, thủ tướng hoặc tòa án.

Nghị định là văn bản quy phạm pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Các nghị định quy định chi tiết những vấn đề được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy định các quyền và nghĩa vụ của người dân phù hợp với quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành.

Quyết định cũng là một văn bản quy phạm pháp luật và có những tính chất đặc biệt so với các văn bản dưới luật khác ở chỗ nó vừa là văn bản dưới luật vừa là văn bản dưới luật. Các luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành sẽ được áp dụng.

Đồng quyết định được sử dụng để thực hiện các biện pháp nhằm thực hiện các nguyên tắc, chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc giải quyết các vấn đề trong hoạt động hàng ngày của các cơ quan nhà nước. nước.

Thông tư là văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành để hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật do cấp trên ban hành. Thông thường, các thông báo sẽ được sử dụng để hướng dẫn các nghị định của chính phủ. Thông tư thường do một Bộ ban hành để hướng dẫn các quy định trong nghị định liên quan đến lĩnh vực do Bộ đó quản lý, hoặc có thể do nhiều Bộ ban hành để hướng dẫn các nghị định do Bộ Tài chính ban hành. Do chính phủ ban hành để giải quyết các vấn đề liên quan đến các công việc do bộ hoặc sở quản lý.

Xem thêm: Bảng cân đối thử (Trial Balance) là gì? Yêu cầu đối với bảng cân đối thử

Công khai: VUIHECUNGCHOCOPIE.VN là trang web Tổng hợp Ẩm Thực - Game hay và Thủ Thuật hàng đầu VN, thuộc Chocopie Vietnam. Mời thính giả đón xem.

Chúng tôi trân trọng cảm ơn quý độc giả luôn ủng hộ và tin tưởng!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *