Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các bài viết của Vuihecungchocopie.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "vuihecungchocopie". (Ví dụ: công thức giải rubik 3x3 vuihecungchocopie). Tìm kiếm ngay
5 lượt xem

Ung thư hạ họng – Bệnh viện Quân Y 103

Bạn đang xem: Ung thư hạ họng – Bệnh viện Quân Y 103 Tại Vuihecungchocopie                        

Bạn đang quan tâm đến Ung thư hạ họng – Bệnh viện Quân Y 103 phải không? Nào hãy cùng Vuihecungchocopie đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Tôi. Tổng quát: Ung thư thanh quản ở Việt Nam thường gặp hơn ung thư thanh quản, nhưng do các triệu chứng lâm sàng ban đầu tương đối kín đáo nên hầu hết bệnh nhân đến khám đều ở giai đoạn nặng, hiệu quả điều trị kém.

1. Định nghĩa: Ranh giới giải phẫu của cơ hầu cũng khác nhau giữa trường học Pháp và trường học tiếng Anh (bao gồm cả Hiệp hội Quốc tế về Cuộc chiến Chống Ung thư). Theo trường phái Pháp, ung thư hầu họng được chia thành 3 vùng: xoang màng phổi, vòng sau-aritenoidienne và thành sau họng. Và các tác giả nói tiếng Anh mô tả ung thư biểu mô hình khuyên sau là một ung thư biểu mô tròn của miệng – ranh giới giữa thực quản, hầu họng và thực quản.

Bạn đang xem: Xoang lê là gì

2. Giải phẫu của hầu họng: Nó là phần dưới của đường tiêu hóa. Cạnh trên của nó giới hạn với mặt phẳng đi qua cạnh trên của xương mác và khung thanh môn, tương ứng với đốt sống cổ thứ ba (c3), và cạnh dưới ngang với cạnh dưới của sụn chêm, tương ứng với mức độ của đốt sống cổ. 6 (c6). Hầu họng nằm sát thành trước và thành bên của mặt sau thanh quản, hai rãnh được hình thành ở hai bên gọi là xoang lê. ., tạo thành cơ hầu họng. Hầu họng bao gồm 3 vùng: xoang piriformis (trái và phải) ở cả hai bên, vòng thắt lưng sau ở phía trước, và thành sau của thành sau của hầu họng. Hầu họng là đường phân chia giữa hạ họng và thực quản, nhiều tác giả cho rằng nó giống với hầu họng hơn.

– Xoang thanh quản: Còn được gọi là rãnh thanh quản, nó bắt đầu từ nẹp thanh quản ở phía trên đến lỗ mở thực quản ở phía dưới. Xoang lách gồm có hai phần, phần trên hay còn gọi là phần màng kéo dài ra phía sau, ranh giới của nó chủ yếu là màng giáp, vùng này nằm gần với hố trước tuyến giáp, khi nhìn thấy chúng ta sẽ thấy giãn ra. Phần dưới, còn được gọi là sụn, nằm giữa hai bên của sụn giáp (bên) và nếp gấp (trung gian) và thu hẹp từ trên xuống dưới và từ ngoài vào trong đến lỗ thực quản.

– Vùng sau sụn mi: Tương ứng với bề mặt sau của thanh quản, niêm mạc của nó bao phủ bề mặt sau của sụn chêm và cơ liên sườn ở trên, và ở dưới là bề mặt sau của sụn thanh quản, tương đối dày. và nhăn nheo.

– Thành trước họng: ranh giới sau là ranh giới dưới của đốt sống cổ c3 đến biên giới dưới, thành này được ngăn cách bởi dây chằng chéo trước và đoạn sau của tạng. Nó kéo dài từ thành sau của hầu họng đến hầu họng. Cả hai bên chỉ được ngăn cách với động mạch cảnh bởi cơ hầu. Cơ hầu họng là cơ vòng tương ứng với cơ hầu họng. Cơ vòng này chỉ mở ra khi nuốt.

3. Dịch tễ học và căn nguyên:

– Tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau ở các quốc gia khác nhau và thậm chí ở các khu vực và tỉnh khác nhau của cùng một quốc gia. Tại Việt Nam, ung thư vòm họng đứng thứ 3 trong các loại ung thư của vùng tai mũi họng, sau ung thư vòm họng, mũi, xoang. Theo Pháp và Ấn Độ, ung thư vòm họng cũng là bệnh ung thư phổ biến ở các nước này, chiếm 12-15% tổng số ung thư đường hô hấp trên và trên và 1% tổng số ung thư, và là loại ung thư phổ biến nhất ở Pháp. (Viện Gusi Tafrusi).

– Độ tuổi: Ở Việt Nam, tuổi 50-65 là phổ biến nhất (khoảng 75%), với khoảng 25% trước và sau 65 tuổi.

– Về giới tính: Ở Việt Nam và một số nước khác (Pháp, Ý, Trung Quốc, Mỹ…), ung thư vòm họng chủ yếu gặp ở nam giới, đặc biệt là ung thư hầu họng ở Anh và Canada. Phổ biến hơn ở phụ nữ (2/1).

– Về căn nguyên, không có định nghĩa rõ ràng: một số yếu tố thường liên quan đến những người nghiện thuốc lá và rượu, ngoài ra, các yếu tố gây kích thích màng nhầy của cổ họng, chẳng hạn như khí, hơi, bụi nghề nghiệp, vân vân. Thường xuyên tiếp xúc với các chất này. Theo một số tác giả ở Anh, ung thư miệng-thực quản thường gặp ở những bệnh nhân mắc hội chứng Kelly-Patterson.

4. Mô học:

-Dưới kính hiển vi: Vì niêm mạc bao phủ hầu họng là lớp biểu mô Martens nên hầu hết ung thư hầu họng là ung thư Martens.

– Nhìn chung: Ở Việt Nam thường gặp hai dạng sau: dạng thâm nhiễm loét chiếm 85%, tổn thương bắt đầu từ niêm mạc, sau đó xâm nhập sâu vào các mô bên dưới (tuyến, lớp cơ), màng, sụn ……) và hình thái của từng lớp (en nappe) khoảng 10-15%. Loại sau có đặc điểm hơn: có các chồi mịn hoặc dạng hạt, không nhẵn nhưng không thâm nhiễm nên khó phân biệt với viêm niêm mạc mãn tính. Hình thái này thường xuất hiện ở bề mặt trên của niêm mạc, nhưng cũng có thể lan rộng trên nhiều hoặc toàn bộ niêm mạc hầu họng. Đôi khi nó liên quan đến ung thư xâm lấn, hình thành nhiều cụm, tăng trưởng hoặc bạch sản với các kích thước khác nhau: dạng này ít được biết đến hoặc bị bỏ qua, dẫn đến kết quả điều trị kém. Tái phát do tổn thương xa hầu họng hoặc thực quản. Loại ung thư này cũng khó điều trị bằng phẫu thuật, vì vậy chỉ có thể xác định ung thư đã được loại bỏ hay chưa dựa trên kết quả sinh thiết tức thời (biopsic Extemporané) tại thời điểm phẫu thuật. .

5. Các dạng lâm sàng khác của ung thư thanh quản: Các dạng này hiếm gặp nhưng là nguyên nhân gây ra sai sót trong chẩn đoán và điều trị, chẳng hạn như:

– Loại ung thư biểu mô Sarcoma: Về mặt lâm sàng, loại này gợi nhớ đến một loại sarcoma và thường được coi là một tổn thương có hình vòng tròn, phình to, có cuống nhỏ với một cuống nhỏ. Phổ biến hơn ở vùng màng hoặc vành sau của xoang màng phổi, và ít gặp hơn ở hầu và thanh quản. Về mặt vi thể, tế bào khối u không còn biểu mô, tế bào hình thoi, có kích thước lớn và nằm rải rác, phân bố giống như nguyên bào sợi hoặc u cơ. Để chẩn đoán chính xác, sinh thiết phải được lấy từ trung tâm khối u hoặc vị trí đính kèm. Loại u này hiếm khi xâm nhập rất sâu, vì vậy khi phẫu thuật thường được tiến hành bằng cách cắt bỏ polyp và các phần đính kèm của nó. Hiện vẫn còn nhiều ý kiến ​​khác nhau về nguồn gốc hình thành mô của khối u này. Loại ung thư này được cho là phổ biến hơn sau khi xạ trị.

-Thực vật hạt kín ác tính: Dạng tăng sản ít gặp, biệt hóa cao, dày, đóng cục và ít thâm nhiễm, sinh trưởng chậm, ít xâm nhập vào hệ bạch huyết, ít nhạy cảm với hóa chất. Việc chẩn đoán bằng kính hiển vi cũng khó khăn vì tổn thương ác tính có xu hướng ăn sâu nên sinh thiết phải lấy nhiều lát cắt.

– Ung thư biểu mô tuyến hạch: Loại này rất hiếm gặp, hình quả dâu tây rất giống ung thư biểu mô tuyến nên nhuộm mô u và cắt nhiều lần trên bệnh phẩm ở vùng trung tâm.

– Ung thư biểu mô không biệt hóa của fornix (ucnt): Về mặt vi thể rất giống với ucnt trong ung thư biểu mô vòm họng, loại này chỉ được tìm thấy trên bề mặt của xoang màng phổi và cũng rất hiếm gặp trong ung thư biểu mô hầu họng. ..

Hai. lâm sàng.

1. Ung thư xoang: Đây là loại ung thư vòm họng phổ biến nhất (trên 80%) ở Việt Nam. Triệu chứng lâm sàng đầu tiên thường gặp nhất là khó nuốt một bên (71%) hoặc khó chịu ở cổ họng một bên, đặc biệt là khi nuốt nước bọt. Sau vài tuần hoặc vài tháng, việc nuốt ngày càng trở nên đau đớn hơn, và đôi khi chất nhầy có máu được khạc ra. Khó nói dần dần xảy ra do khối u đã bắt đầu di căn xuống hầu, thanh quản hoặc phù nề. Các hạch bạch huyết cổ được sờ thấy khi biểu hiện trong 1/3 trường hợp. Do các triệu chứng lâm sàng ban đầu và biểu hiện hạch to ở cổ tử cung tương đối ẩn, không gây ồn ào hoặc kéo dài quá lâu nên người bệnh rất dễ bỏ qua hoặc không đi khám, khi ở giai đoạn muộn. Theo thống kê của Viện Tai Mũi Họng, hơn 60% bệnh nhân có triệu chứng trên 6 tháng so với thời điểm có các triệu chứng trên.

  • Khám lâm sàng: Để có kết quả tốt, đầu tiên dùng khí dung mucaine 2% -3% hoặc gây tê cổ họng. Khi bệnh nhân đến khám (thở hoặc nói có mùi hôi) có biểu hiện nhiễm trùng kép hoặc hoại tử, phải dùng kháng sinh một đợt (5 – 7 ngày). Ngoài việc khám họng, phải sờ hạch cổ để đánh giá vị trí, phạm vi di chuyển, thể tích… phải chụp CT vùng hầu họng, nội soi để đánh giá chính xác tổn thương. Đối với các khối u vùng hầu họng, nội soi gián tiếp chỉ hữu ích trong việc phát hiện ban đầu các khối u xoang màng phổi chứ khó xác định ranh giới tổn thương do phù nề hoặc viêm nhiễm tại chỗ. Vì vậy, cần phải nội soi chụp X-quang để đánh giá chính xác.

– Khối u khu trú ở một phần xoang màng phổi: Khối u ở sừng trước, thường loét, có phù nề, nhu động thanh môn thường bình thường. Các khối u của thành trong (hoặc thành hầu, thanh quản) thường nằm bên dưới nẹp vít thanh quản, loại này thường thâm nhiễm nên thanh quản thường bất động. Các khối u của thành ngoài (hoặc thành bên của hầu) thường xâm lấn hoặc tăng sinh. Các khối u ở khu vực này thường chiếm 50% hình thái khối u cục bộ, vì vậy có thể phẫu thuật bảo tồn.

– Khối u di căn vào thành xoang đỉnh: Đây là loại thường gặp nhất ở người Việt Nam, do hầu hết bệnh nhân đến muộn và hầu hết các xoang màng phổi đã thâm nhiễm dưới dạng loét xâm lấn. Phù ngoại vi.Nếu bất động thanh quản, khối u chỉ có thể được xác định bằng nội soi thanh quản trực tiếp kết hợp với nội soi thanh quản CT. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khối u tương đối khu trú hoặc nằm ở phần trên của khoang màng phổi (phần màng), thường có loét thâm nhiễm hoặc mụn cóc và phần lớn thanh quản vẫn còn di động, thường lan lên trên hoặc về phía khu vực này. Chỗ nối thứ ba của hầu họng và thanh nẹp, hoặc ở phần dưới của khoang màng phổi (phần sụn), cũng thường thấy với những vết loét sâu, ôm chặt lấy vòng và các nhánh của sụn giáp, thanh quản được cố định. Chẩn đoán khó hơn, nếu chúng ta soi thanh quản gián tiếp thì chỉ phát hiện được một vùng của xoang màng phổi, ứ đọng đờm dãi nhiều hoặc chỉ cố định được một nửa thanh quản. Do đó, phải sử dụng phương pháp nội soi trực tiếp. Đúng ra, phải khám kỹ vùng hầu họng, đặc biệt là phần dưới của xoang màng phổi khi bệnh nhân nghi ngờ có di căn hạch cổ đến khám.

– Khối u lớn lan ra ngoài khoang màng phổi: Loại này cũng thường gặp ở Việt Nam và là giai đoạn lây lan của ung thư hầu họng hoặc thanh quản, nơi khối u đã di căn đến hầu và thanh quản. Khám lâm sàng khó xác định khối u bắt nguồn từ hạ họng hay thanh quản. Đó là lý do tại sao nó được gọi là ung thư hầu họng hoặc ung thư thanh quản. Để hiểu chính xác khối u nguyên phát, cần có tiền sử bệnh cẩn thận (xuất hiện các triệu chứng lâm sàng đầu tiên của hệ tiêu hóa hoặc hệ hô hấp), kết hợp với chẩn đoán mô học của bệnh phẩm sau phẫu thuật và tổn thương. Thời gian hoạt động. Khi sờ nắn trong trường hợp này, do phù nề của thành hầu họng dưới, dày lên của đường viền sau nhánh sụn giáp, mất dây thanh, và trục thanh quản kém cố định hoặc di động.

– Đánh giá mức độ lây lan của khối u: Dựa trên phân loại của Liên minh quốc tế chống ung thư (uicc – 1979) về t.n.m như sau:

t: tis: ung thư biểu mô xâm lấn

Tới: Không có dấu hiệu của khối u nguyên phát

t1: Khối u vẫn giới hạn ở vị trí giải phẫu

t2: Khối u đã di căn sang các bộ phận khác của hạ họng hoặc di căn sang các vùng lân cận nhưng thanh quản không cố định;

t3: giống t2, nhưng một nửa cổ họng được cố định

t4: Khối u đã lan đến sụn, xương hoặc mô mềm

tx: chưa đủ điều kiện để xác định khối u nguyên phát

n: n0: chưa có hạch bạch huyết

Có thể sờ thấy hạch bạch huyết n1 ở một bên nhưng vẫn có thể di chuyển được;

n1a các hạch bạch huyết di động, nhưng di căn chưa được đánh giá;

n1 Các hạch bạch huyết di động nhưng được đánh giá là có di căn;

n2 hạch bạch huyết hai bên hoặc bên cạnh, nhưng vẫn di động;

Đánh giá hạch bạch huyết không di căn N2a

n2b đánh giá các hạch bạch huyết có di căn ung thư

n3 nút đã được cố định

m: m0 không có di căn xa

m1 có di căn xa.

– Khám phát hiện hạch cổ: đa số bệnh nhân đến khám muộn nên 75% có hạch cổ (Viện Tai Mũi Họng 1960-1988), hạch cổ chủ yếu ở một bên, còn hạch hai bên. hoặc hạch hai bên chỉ chiếm 5-8%. Trên lâm sàng, hạch một bên sờ thấy chiếm khoảng 45%, nhưng khi phẫu thuật, số lượng hạch và nhóm hạch nghi ngờ di căn thường nhiều, phần lớn dính vào nhau tạo thành một khối (65%) và hơn 2/3. đã được cắt bỏ. Cố định (ENT), các nút này thường liên quan đến các mạch máu chính hoặc cơ cổ tử cung. Theo thống kê của Viện Tai Mũi Họng, nhóm hạch dưới bắp tay (dưới góc hàm) thường gặp nhất (82%), hạch dễ sờ thấy hầu hết nằm ở 1/3 giữa của máng động mạch cảnh. (tương ứng với nhóm hạch ở 1/3 trên của máng động mạch cảnh), trong khi các nhóm hạch tái phát hiếm khi sờ thấy. Qua kinh nghiệm, việc đánh giá di căn ung thư qua thăm khám và phẫu thuật thường khác nhau, chỉ có phẫu thuật mới phát hiện được số lượng và thể tích hạch tại thời điểm phẫu thuật. Luôn luôn có ngày càng nhiều hạch nặng nghi ngờ di căn hơn đánh giá lâm sàng của chúng tôi, vì vậy điều quan trọng là phải ghi chép và lập biểu đồ chi tiết về khối u và tổn thương hạch trong hồ sơ phẫu thuật. Điều quan trọng, đặc biệt là trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, không thể thực hiện hàng loạt chụp cắt lớp vi tính trên tất cả các bệnh nhân.

– Khám và phát hiện ung thư thứ phát: Hiện nay trên thế giới đã có nhiều tác giả thông báo về vấn đề này (ung thư thứ phát đường hô hấp trên thường chiếm khoảng 25%, cachin 43/174, mounier-kuham 40/140), trong số trong đó yết hầu dưới chiếm 10% (dargent: 17%, chardot: 14%, adré pinel: 7%, j.p pradoura: 17%). Theo bộ nhớ đệm y. Khoảng 47% bệnh nhân mắc cả hai loại ung thư. Cho dù xuất hiện cùng lúc hay theo thời gian, các vị trí phổ biến nhất của loại ung thư thứ hai là hầu họng và miệng. Ung thư xoang rất hiếm và xảy ra ở cả hai bên. Ngoài đường hô hấp trên và đường tiêu hóa, nhiều tác giả còn nhấn mạnh đến sự cùng tồn tại của ung thư thực quản. Những dữ liệu này ngày càng được nhiều tác giả tham khảo, đặc biệt là với sự ra đời của ống nội soi mềm và những tiến bộ công nghệ ngày càng cao trong ngành nội soi (theo pradounaj.p 9% bệnh nhân ung thư hạ họng). Một loại ung thư thực quản khác, trong đó 8/9 bệnh nhân không có triệu chứng và chỉ phát hiện trên nội soi phế quản). Do đó, khi khám bệnh nhân ung thư vòm họng, cần kiểm tra thực quản một cách hệ thống bằng nội soi và chụp X-quang, có thể kết hợp với nhuộm niêm mạc xanh toluidine để chỉ ra những vùng nghi ngờ (ví dụ phát hiện ung thư cổ tử cung).

  • Cận lâm sàng:

-Test: Sinh thiết để xác định chẩn đoán và các lựa chọn điều trị. Ở giai đoạn đầu có thể kiểm tra, đặc biệt có tăng sản, sùi mào gà, nếu có bội nhiễm và phù nề thì phải dùng một đợt kháng sinh để loại bỏ phù nề trong 4-5 ngày, sau đó sinh thiết. Trong trường hợp nội soi, luôn luôn làm sinh thiết, nội soi có thể dùng thuốc an thần hoặc gây mê tùy trường hợp, và có thể sử dụng ống soi phế quản mềm (nếu có thể) hoặc ống soi phế quản cứng.

– X-quang: Để có được thông tin chính xác, cần phải chụp c.t.scan của hầu họng và thực quản để đánh giá độ sâu của sự xâm nhập, chẳng hạn như hố dưới thanh quản, khoang paraglottic, và để phát hiện sớm tổn thương sụn tuyến giáp.

  • Chẩn đoán: Nhìn chung chẩn đoán ung thư xoang màng phổi không khó lắm, trừ những trường hợp sau cần chẩn đoán phân biệt với phù dây thanh một bên hoặc đứt một phần dây thanh. Tràn dịch màng phổi do chấn thương, chấn thương hoặc dị vật, ổ viêm loét dạng nốt của xoang lê (thường gặp ở Việt Nam trong những năm gần đây) do hẹp thực quản cổ, ứ đọng đờm rãi trong xoang hai bên và chèn ép do khối u vùng cổ gây ra. mở xoang lê không thông.

2. Ung thư biểu mô tuyến sau: Là bệnh ung thư bắt nguồn từ bề mặt niêm mạc của thanh quản, bề mặt bao phủ sụn dưới sụn, cơ liên sườn và sụn viền. Loại này hiếm gặp ở Việt Nam (1 – 2% các trường hợp ung thư vòm họng). Về mặt mô học, phần lớn vẫn là ung thư biểu mô Marpi biệt hóa. Nói chung, thường gặp nhất là các vết loét thâm nhiễm và loét. Khối u thường kéo dài đến thành trong và sừng trước của xoang màng phổi, nhưng phổ biến nhất là lan đến hầu họng. Ở giai đoạn này, nguồn gốc của khối u (từ thực quản hoặc từ phía sau thanh quản) thường khó phát hiện, di căn lên phía sau của xoang màng phổi là rất hiếm và thường là ở giai đoạn nặng .. Triệu chứng phổ biến nhất là khó nuốt, nhưng triệu chứng này không rầm rộ và tiến triển nên người bệnh thường bỏ qua.

XEM THÊM:  Đất MNC là gì? Chế độ sử dụng đất MNC như thế nào?

Nội soi gián tiếp khó phát hiện tổn thương vì viêm thường nhẹ và phù nề, vòng hậu môn thường hơi nhô cao, đôi khi khó phân biệt là tổn thương thành sau thanh quản hay hạ họng. , nội soi là cần thiết kiểm tra gương. Ban đầu, các hạch bạch huyết ở cổ tử cung thường không thể phát hiện được.

  • Chẩn đoán:

– Chụp Xquang: chụp phim cản quang để xác định điểm xuất phát và khối u ở thành sau thanh quản có di căn lên thực quản hay không. Nếu có thể, chụp cắt lớp hoặc c.t.scan giúp đánh giá chính xác tổn thương.

– Nội soi họng trực tiếp, nội soi thanh quản (nội soi giúp thấy rõ các tổn thương, đặc biệt là vùng hầu họng, có thể dùng toluidine để kiểm tra toàn diện niêm mạc vùng hầu, họng khi nội soi và sinh thiết các bộ phận nghi ngờ).

  • Giai đoạn Bệnh tật (t.n.m) theo Liên minh Quốc tế Chống Ung thư (uicc).

t: tis: ung thư biểu mô xâm lấn trước;

t0: không có khối u nguyên phát;

t1: Ung thư nằm phía sau vòng lưới và chưa xâm lấn các mô lân cận;

t2: Khối u đã lan đến khoang màng phổi hoặc thành sau họng mà không thâm nhiễm vào các mô lân cận (không cố định)

t3: Khối u đã lan đến các cơ của cổ họng hoặc phía trước của cột sống.

n = m Được phân loại là ung thư xoang.

  • Điều trị: Chủ yếu là sự kết hợp của phẫu thuật và tia xạ. Nếu khối u vẫn còn khu trú và chưa lan đến thực quản, có thể phẫu thuật: cắt toàn bộ thanh quản và cắt rộng thành sau thanh quản gần thực quản và sừng trước của xoang piriform hai bên, nạo. Một hoặc cả hai hạch ở cổ, tùy theo từng bệnh nhân. Sau mổ phải kết hợp xạ trị (khối u và hạch cổ 55-65gy). Nếu không còn phải phẫu thuật hoặc bệnh nhân không đồng ý phẫu thuật thì liều chiếu xạ phải trong khoảng 65-70gy đối với khối u và các nhóm hạch liên quan. Phẫu thuật và xạ trị có những hiệu quả khác nhau, nhưng nhìn chung đều nặng hơn ung thư màng phổi, với tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 20-25% so với 8-10% nếu chỉ xạ trị. Nếu khối u đã di căn đến vùng hầu họng thì cần tiến hành phẫu thuật lớn để cắt bỏ thanh quản và vùng hầu họng và hạ hầu. Phẫu thuật tai mũi họng và lồng ngực được phối hợp chặt chẽ và có thể thực hiện cùng một lúc. Bệnh ung thư này hiếm gặp ở Việt Nam, nhưng theo báo cáo của nhiều viện và bệnh viện ung thư ở Pháp (viện gustave-roussy 10%), Mỹ (phòng khám mayo 23%), Nhật Bản (osaka 20%), Tunisia (satah azaiz 80)%. ), cần lưu ý những điểm sau: Nội soi trực tiếp rất quan trọng vì không thể phát hiện được các khối u nhỏ giới hạn trong hạ họng. Kiểm tra gián tiếp bằng nội soi thanh quản. Ở lần khám đầu tiên, tỷ lệ khối u nhỏ được phát hiện là rất thấp (9% đối với t1, 14% đối với t2), và các hạch bạch huyết có thể sờ thấy hoặc nghi ngờ di căn chỉ khoảng 58% (gustave-roussy). Hiệu quả rất thấp ( Tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ từ 3% đến 10%) vì loại u này có khả năng kháng tia xạ rất cao. Vì vậy, xạ trị chỉ nên áp dụng khi không còn phải phẫu thuật hoặc chỉ điều trị triệu chứng.

Phẫu thuật là phương pháp điều trị hứa hẹn nhất, nhưng nó cũng rất hạn chế vì chỉ có thể áp dụng cho những khối u còn hạn chế hoặc không quá lớn (thường chỉ chiếm 20%). Thời gian sống trên 5 năm đạt 30%. Phẫu thuật bao giờ cũng nên được thực hiện cùng với bóc tách cổ (cổ điển hoặc bảo tồn) vì trong thực tế, đại đa số bệnh nhân đã có hạch cổ, điều này hiếm khi gặp trên lâm sàng. Sau khi phẫu thuật, phải sử dụng tia xạ. Bệnh nhân được điều trị nên được theo dõi chặt chẽ và xem xét lại sau 2-3 tháng. Kinh nghiệm cho thấy tỷ lệ tái phát khối u hoặc hạch bạch huyết thường gặp trong vòng 12-16 tháng sau phẫu thuật hoặc xạ trị và cần được giải quyết kịp thời. Ngoài ra, cần theo dõi sự xuất hiện của các ung thư thứ phát.

3. Ung thư thực quản ở miệng Nhiều tác giả cho rằng nó thuộc về đường hầu hơn là thực quản. Trong tài liệu y khoa học tiếng Anh, nó được gọi là “ung thư biểu mô sau hình khuyên”. Về mặt giải phẫu, vùng rìa sau, còn được gọi là “viền thực quản” (uicc-1978), bao phủ lỗ thực quản đến phần dưới của hầu, và từ rãnh trước đến hầu. Mở rộng ra khỏi thanh nẹp về phía sau là khớp vòng phễu. Về mặt lâm sàng, những ung thư này thường liên quan đến thiếu máu do thiếu sắt kết hợp với hội chứng ketly-pateson. Về mặt mô học, cũng như các loại ung thư biểu mô hầu họng khác, phổ biến nhất là ung thư biểu mô Malpighian biệt hóa. Đặc biệt, một số tác giả nhận thấy rằng mesomorphs phổ biến ở Anh hơn các nước khác. Loại ung thư này thường lây lan theo các hướng sau:

– Dọc theo lớp dưới niêm mạc đến hầu và thực quản, hoặc lan ra phía trước vào khí quản và thường vào tuyến giáp.

– Hiếm gặp lan sang thành thanh quản và thường dẫn đến cố định dây thanh ở giai đoạn sau (chỉ khoảng 10%).

Các hạch bạch huyết cổ tử cung di căn cũng phổ biến và thường có thể sờ thấy ở giai đoạn nặng. Các hạch di căn cổ tử cung sờ thấy chiếm khoảng 20% ​​(maran và stelt) khi khám ban đầu, thường gặp nhất ở nhóm hạch cổ dưới, sau đó là nhóm hạch tái phát, hiếm gặp là hạch trung thất. .

Xem thêm: Thời đại là gì?

  • Dịch tễ học:

Xem thêm: Tìm hiểu về YOLO trong bài toán real-time object detection

– Tỷ lệ mắc ung thư hầu họng thay đổi theo quốc gia. Ở lục địa châu Âu, tỷ lệ ung thư vòm họng chiếm 1-2%, ở Mỹ là 3% (Phòng khám Mayo) và 5% (Bệnh viện Anderson), ở Anh và các nước Bắc Âu, tỷ lệ mắc bệnh ung thư này khá cao từ 25% – Tỷ lệ ung thư thanh quản 30% (stell pm-heppool 40%, puhaka-finland 26%) cũng rất khác nhau giữa các vùng, ví dụ 50-60% ở miền nam nước Anh.

– Về tuổi: Tuổi trung bình thường trẻ hơn các bệnh ung thư khác (45-55 tuổi).

– Về giới tính: Không giống như các loại ung thư vòm họng khác, ung thư hầu họng phổ biến ở phụ nữ hơn nam giới, theo briant to Toronto (2/1), stell-liverpool (3/1)), hanrrison là (5 / 1).

  • Yếu tố liên quan đến cơ chế bệnh sinh: Theo một số tác giả Pháp và lục địa Châu Âu, cả nghiện rượu và hút thuốc lá đều có liên quan mật thiết đến ung thư thực quản, như các loại ung thư khác, ung thư vòm họng khác. Nhưng theo các tác giả, hai yếu tố trên không liên quan gì. Ngược lại, khoảng 30-60% bệnh nhân ung thư thực quản bị hội chứng kelly-paterson (palummer-vinson, usa) thiếu máu do thiếu sắt với chứng khó nuốt và teo niêm mạc đường tiêu hóa trên. Bệnh hiếm gặp ở Pháp nhưng thường gặp ở Anh và Thụy Điển, chủ yếu ở phụ nữ, chiếm 85% (mac nab-jones), thường ở độ tuổi từ 35-60.
  • Lâm sàng: Dấu hiệu Các dấu hiệu khởi phát rất thận trọng, thường chỉ thấy khó nuốt ở vùng giữa hầu, diễn tiến chậm, đôi khi bị sặc nên người bệnh ít chú ý. Nếu khám gián tiếp thì khó phân biệt hoặc chỉ thấy ở hạ họng, có ứ đọng đờm rãi, có khi kèm theo phù nề nếu có loét ở phần trên của tổn thương. Trong một số trường hợp, có thể thấy tổn thương ở một trong các thành hầu (thường là vòng sau của dây thần kinh tọa) kéo dài xuống hầu họng. Trong trường hợp này, rất khó để xác định điểm xuất phát của chấn thương. Sờ cổ phục vụ hai mục đích: thăm dò các hạch cổ ở đoạn dưới và dọc theo trục thanh quản, và kiểm tra xem trục thanh quản còn di động hay cố định ở vùng trước cột sống cổ hay không.
  • Khám: chụp Xquang vòm hầu, cản quang, c.t.scan thẳng, nếu có thể, c.t.scan, trên mô mềm dày có thể thấy mô mềm dày phía sau gáy, nếu giãn rộng khoảng này ta có thể nhìn rõ vùng hậu môn. Thành họng được xem là ngăn cách hoàn toàn với thanh quản ở trên và bề mặt sau của khí quản ở dưới. Các cạnh của mặt sau của sụn viền không đều và có răng cưa. Trên phim thẳng, hình ảnh cản quang của đường viền sau hình khuyên không đều, nhưng đường viền phía trên của khối u là khó xác định nhất. Vì vậy, c.t.scan phải được thực hiện. Nội soi: Kiểm tra trực tiếp thanh quản để xác định tổn thương giới hạn của nó và sinh thiết. Nội soi thực quản rất khó, và khi khối u còn nhỏ, ống nội soi mềm hoặc cứng có thể dễ dàng đi qua lỗ thực quản. Tuy nhiên, khi rút ống phải quan sát từ từ và cẩn thận, đôi khi có thể phát hiện các tổn thương xâm lấn ở lớp dưới niêm mạc. Khi khối u có kích thước vừa phải, ống nội soi khó đi qua thực quản, không nên chọc sâu, lúc này màu xanh toluidine chỉ có thể làm ố phần trên của thực quản. Trong những trường hợp này, nó chỉ có thể được đánh giá bằng cách chụp CT.
  • Điều trị: Nó chủ yếu kết hợp phẫu thuật và xạ trị.

– Phẫu thuật: Cắt bỏ toàn bộ thanh quản và thực quản ở cổ, và bóc tách hạch ở một hoặc cả hai bên cổ tùy theo tình trạng tổn thương hạch ở cổ. Do phải cắt bỏ một phần thực quản, nên phẫu thuật chỉnh hình thực quản phải được tiếp tục với một vạt cơ hoặc cơ lồng ngực hoặc chuyển đại tràng lên. Trong hơn 10 năm qua, loại phẫu thuật này đã mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ.

– Tia xạ: thường kết hợp với tia xạ co60 sau phẫu thuật, lượng tia xạ và phương pháp tia xạ và trong ung thư xoang lách, nhất là phẫu thuật thực quản, trường xạ trường phải thấp hơn. Một số tác giả đã dùng tia 20-40gy (daley) trước mổ nhưng hiệu quả không khá hơn so với nhóm không xạ, ngược lại còn gây một số cản trở cho quá trình mổ. Vì vậy, đại đa số các tác giả chủ trương xạ trị sau mổ. Lượng tia xạ sau phẫu thuật thường từ 50-60gy tùy thuộc vào sự lan rộng của khối u và hạch bạch huyết và mô học của ung thư.

– Kết quả điều trị: Cho đến nay, kết quả điều trị của bệnh ung thư này vẫn còn thấp so với các bệnh ung thư hầu họng khác, với tỷ lệ sống không quá 10-15% trên 5 năm, mặc dù những tiến bộ gần đây của khoa học kỹ thuật, chỉnh hình và X quang đã có nhiều tiến bộ.

– Chỉ định điều trị: Trong một số trường hợp vẫn có chỉ định xạ trị phối hợp, nhưng tỷ lệ chống chỉ định cũng cao do liên quan đến tình trạng sức khỏe yếu, tuổi cao, khoảng cách,… các yếu tố liên quan. Di căn (m1), khi khối u đã di căn quá xa vào mô lân cận, hoặc khi hai bệnh ung thư cùng tồn tại. Do đó, theo thống kê của chúng tôi, các chỉ định điều trị chỉ đạt> 30%, còn lại hầu hết là điều trị triệu chứng. Do phẫu thuật quy mô lớn, phức tạp nên tỷ lệ tử vong sau mổ cao, chiếm khoảng 5 – 10%, hiệu quả điều trị đối với loại ung thư này còn rất hạn chế.

-Điều trị tiến triển của ung thư: Tái phát tại chỗ và di căn hạch thường xảy ra trong vòng 6 tháng điều trị. Các đoạn thực quản được chỉnh hình hoặc cấy ghép dễ bị co thắt do hoại tử, đặc biệt là sau tai, có nguy cơ biến chứng nhiễm trùng thứ phát và tỷ lệ tử vong cao hơn.

Ba. Điều trị ung thư vòm họng.

1. Phương pháp phẫu thuật đối với ung thư vòm họng: Phương pháp phẫu thuật được xác định tùy theo tổn thương của khối u và hạch bạch huyết, các phương pháp phẫu thuật sau đây thường được sử dụng:

  • Cắt toàn bộ thanh quản: là thủ thuật phổ biến nhất ở Việt Nam do bệnh nhân có xu hướng chuyển sang giai đoạn nặng. Đây thực chất là việc loại bỏ toàn bộ thanh quản và một phần của hạ hầu (loại bỏ một xoang bướm và một phần của thành sau họng). Thủ thuật này phải đảm bảo còn nguyên niêm mạc hầu họng, đủ để xây dựng lại thành hầu mới và nối ống tiêu hóa của hầu họng với hầu họng để bệnh nhân có thể ăn uống được tự nhiên.
  • Cắt một phần thanh quản: chỉ đối với những khối u nhỏ trong xoang piriform (t1), sau đó là xạ trị. Thường sử dụng phương pháp sau:

– Phẫu thuật cắt bỏ hầu họng nước kiệu bên: đối với các khối u nhỏ ở thành ngoài khoang màng phổi cách khoang màng phổi (sừng trước) ít nhất 1,5 cm. Thủ thuật này nhằm mục đích loại bỏ thành ngoài và mặt phẳng sâu bên dưới (bao gồm sừng lớn hơn của hyoid, tam giác của sụn thanh quản trước sừng trước của xoang màng phổi, màng giáp và cơ giáp), nhưng phải bảo quản. thần kinh tái phát.

– Cắt hạ thanh môn (andré, pinet, lacourreye) được chỉ định đối với ung thư xoang màng phổi đã di căn đến phần đáy và không ra ngoài thanh quản (thanh quản vẫn còn di động). Thủ thuật này nhằm loại bỏ toàn bộ khoang màng phổi và một nửa thanh quản tương ứng với mặt phẳng của sụn mi trên (giữ lại một nửa sụn mi để thông khí tự nhiên sau mổ) về phía thanh quản. Các dây thanh, sụn chêm, thanh quản morgagni, dây thanh quản và nửa thanh quản của thanh môn bị tổn thương nên phải cắt bỏ toàn bộ cánh của sụn giáp.

  • Cắt bỏ túi máu dưới thanh quản trên thanh quản: dành cho ung thư rìa thanh quản. Phương pháp này cũng ít được sử dụng ở Việt Nam, nơi tổn thương rộng do bệnh nhân đến khám muộn. Quy trình này khác với phương pháp andré ở chỗ quả thông bảo tồn thanh môn (dây thanh âm, sụn mỏm dưới và đáy của thanh quản), chỉ cắt bỏ nửa trên của sụn tuyến giáp và bảo tồn gân dây chằng ngược dòng, nhưng việc ăn uống thường dẫn đến chọc hút vào đường thở, đặc biệt là trong giai đoạn đầu hậu phẫu. Vì vậy cần theo dõi các biến chứng của viêm phế quản phổi.

2. Phương pháp tiếp cận xạ trị: Xu hướng chung của nhiều tác giả trên toàn thế giới là kết hợp xạ trị sau mổ, tia trường bao gồm cả hạch cổ họng và cổ tử cung hai bên. Tia Co60 hiện đang được sử dụng ở Việt Nam để đi xuyên qua da. Tia trường cổ tử cung hai bên cũng bao gồm các khối u thanh quản và các hạch bạch huyết cổ tử cung hai bên. Giới hạn trên của tia trường đi qua ranh giới dưới của ống thính giác ngoài, giới hạn trước là da vùng trước cổ (phần trước của khí quản có thể được che chắn bằng lá chắn), giới hạn dưới là lỗ thực quản, và giới hạn sau là ranh giới của thanh quản. sau xương chũm. Bó thượng đòn có thể được sử dụng cho các hạch dưới cổ tử cung. Gần tủy sống, liều không quá 45 gy. Thêm chùm điện tử nếu cần thiết. Trong trường hợp bình thường, liều bức xạ cho các khối u ở họng và các hạch bạch huyết cổ tử cung nên là 65-70gy, 2gy mỗi ngày và 10-12gy mỗi tuần. Nếu hạch chưa thâm nhiễm, có thể dùng liều 45-50 gy.

Trong phẫu thuật cắt bỏ một phần của hầu họng, thanh quản còn lại (phía trước của thanh quản) phải được bảo vệ càng nhiều càng tốt và âm lượng chùm tia không được vượt quá 15gy.

Hiệu quả điều trị: phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và phương tiện kỹ thuật. Hiệu quả điều trị sau này tương đối khả quan, trước đây có 3 phương pháp điều trị: phẫu thuật đơn thuần, xạ trị đơn thuần, phẫu thuật kết hợp tia xạ, đa trường, xạ trước mổ, xạ sau mổ và xạ trị xen kẽ (xạ phẫu). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hầu hết các tác giả ủng hộ xạ trị sau phẫu thuật, nó có hiệu quả tốt nhất khi kết hợp với xạ trị. Ở Việt Nam từ năm 1970 đến nay chủ yếu sử dụng phương pháp này.

Trong trường hợp bình thường, tỷ lệ kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân 3-5 năm đạt 25-35%, và một số tuổi thọ vượt quá 10-15 năm, nhưng tỷ lệ này thấp tới 10-12%. Hầu hết các trường hợp tử vong là do tái phát tại chỗ hoặc hạch bạch huyết, và thường liên quan đến di căn xa (thường ở phổi hoặc xương) và, trong một số trường hợp, ung thư thứ hai. Vì vậy, bệnh nhân được điều trị cần được kiểm tra và theo dõi 2 tháng một lần trong 3 năm đầu và 4 – 6 tháng một lần cho những năm tiếp theo. Chụp phổi định kỳ 6 tháng một lần trong 3 năm đầu.

Xem thêm: Thời đại là gì?

Xem thêm: Thời đại là gì?

Xem thêm: Thời đại là gì?

Ung thư thanh quản

Tôi. Đại bàng:

– Ung thư thanh quản là bệnh ung thư phổ biến ở Việt Nam, trong lĩnh vực tai mũi họng, ung thư thanh quản đứng hàng thứ 4 sau ung thư vòm họng, ung thư vòm họng và ung thư hạ họng. . Ung thư thanh quản đứng thứ 7 về tỷ lệ tử vong do ung thư (jackson ch.).

XEM THÊM:  Từ A-Z biện pháp thi công sàn deck chuẩn kỹ thuật không nên bỏ qua

– Theo thống kê của nhiều nước trên thế giới, ung thư vòm họng chiếm tỷ lệ xấp xỉ 2% trong số các bệnh ung thư thường gặp.

– Năm 1810, desault thực hiện ca phẫu thuật cắt thanh quản đầu tiên và ông đã mô tả kỹ thuật này. Năm 1863, Sands H.B., người đã thực hiện phẫu thuật cắt bỏ một phần thanh quản, và vào năm 1873 Billroth T. Cắt thanh quản toàn bộ cho ung thư thanh quản gần đây đã được mô tả chi tiết. Trong bài báo năm 1886 của mình, Schwartz ch. ed. Thuốc chữa bệnh u vòm họng được giới thiệu đã nhận được rất nhiều sự quan tâm. Kể từ đó, vấn đề, chẩn đoán và điều trị ung thư thanh quản tiếp tục được cải thiện.

– đề cập đến ung thư thanh quản đề cập đến các khối u nằm trong khoang thanh quản, bao gồm bề mặt dưới của thanh quản, thanh môn, thanh quản, dây thanh và viêm dưới thanh quản, và các khối u khác nằm ngoài phạm vi. Vị trí là một loại ung thư vòm họng.

– Đại đa số các bệnh ung thư thanh quản là ung thư thanh quản, rất hiếm gặp u sarcom, chỉ chiếm khoảng 0,5% (leroux robert và petit) nên phần này chủ yếu đề cập đến ung thư thanh quản.

Hai. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh: Nguyên nhân chính của bệnh chưa được xác định, nhưng người ta đề cập đến các yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh:

– Hút thuốc lá: Nó được nhiều người coi là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của ung thư cổ họng và ung thư phổi.

– Yếu tố khởi phát: vi khí hậu, ảnh hưởng nghề nghiệp (phải tiếp xúc với khí, bụi, hóa chất …) hoặc viêm thanh quản mãn tính (tiền đề dẫn đến ung thư).

– Giới: nam gặp nhiều hơn, chiếm hơn 90% (jackson ch. 93,2%, tapia 94,4%, cannyt 97%, girbca 94%). Từ thống kê này, nhiều tác giả cho rằng phụ nữ ít mắc bệnh hơn do ít tiếp xúc với các yếu tố liên quan đến bệnh hơn nam giới.

– Tuổi: Thường gặp ở nhóm tuổi: 50-70 (72%), nhỏ hơn 40-50 (12%). Đặc biệt là đối với phụ nữ, nếu mắc bệnh thì càng bị lão hóa sớm hơn.

– Đối với bệnh viêm thanh quản mãn tính như tăng sừng, bạch biến là một dạng ung thư dễ mắc phải, vì vậy những dạng này còn được gọi là trạng thái tiền ung thư.

– Các khối u lành tính của thanh quản cũng là loại ung thư nhất, với u nhú thanh quản chiếm một tỷ lệ đáng kể ở người lớn (moure, le maitre). Nhiều tác giả nhận xét rằng loại u nhú thanh quản này nếu điều trị bằng tia xạ thì rất dễ gây ung thư ngay cả ở trẻ em (gignoux, birmeyer).

Ba. Bệnh lý:

1. Nói chung: Thường gặp 3 dạng sau:

– Hình thái tăng sản: xuất hiện giống u nhú và trong một số trường hợp có polyp dạng nốt sần.

– Dạng thâm nhiễm: Bề mặt niêm mạc còn nguyên vẹn, đôi khi có nhú, vùng này niêm mạc căng phồng và di động hạn chế.

– Dạng loét với các cạnh không đều, dễ chảy máu khi chạm vào. Phổ biến nhất là hỗn hợp tăng sinh và loét, hoặc hỗn hợp loét và thâm nhiễm.

2. Về mặt vi thể: Phần lớn ung thư biểu mô thanh quản là ung thư biểu mô tế bào vảy, chiếm 93% (Jackson) hoặc mô đệm, tiếp theo là các mô tuyến cơ bản, trung gian và biểu mô. Các khối u biệt hóa hiếm gặp trong ung thư thanh quản. Diễn tiến lâm sàng nhanh, nhưng nhạy cảm với tia xạ.

Bốn. Lâm sàng:

1. Vị trí và mức độ lan rộng của khối u.

  • Thanh quản (lớp trên) hoặc tiền đình thanh quản.

– Thường xảy ra trên cả dây thanh âm và bề mặt dưới của nắp thanh quản. Nó lây lan nhanh chóng sang bên cạnh, và khối u vẫn giới hạn ở bề mặt dưới của nắp thanh quản là rất hiếm vì nó phát triển nhanh chóng thành nắp thanh quản và vùng trước tim thường tăng sản hoặc loét với các cạnh gồ ghề. Ở một bên nắp thanh quản (trái hoặc phải), hiếm khi ở đường giữa. Vùng nẹp dây thanh và sụn bên bị tổn thương thường to ra do khối u thâm nhiễm hoặc phù nề. Ban đầu, nền của dây thanh và dây thanh bình thường. Thường khó đánh giá chính xác độ thâm nhiễm vào bên sâu của mắt, do đó, hố trước thanh quản có thể được đánh giá bằng chụp cắt lớp thông thường hoặc tốt nhất là chụp c.t.

– Loại ung thư này thường bắt đầu ở phía trước thanh quản và gần nắp thanh quản, và khối u dần dần lan ra xung quanh, về phía nắp thanh quản và hố sọ trước. Sau đó, có quỹ đạo lan lên trên qua nắp thanh quản hoặc thanh quản trước vào màng giáp hoặc sừng trước của sụn giáp, ở phía bên do hàng rào của cánh sụn giáp, nơi mô ung thư thường dừng lại ở bề mặt sụn trung gian. Ở phần dưới, ngay cả ở giai đoạn muộn, nó hiếm khi vượt qua mặt phẳng của dây thanh và đáy của thanh quản, mà có thể lan dần sang bên đối diện của thanh quản.

– Ung thư bắt nguồn từ vách ngăn liên thất morgagni thường tăng sinh hoặc loét và thường bắt đầu ở đáy thanh quản hoặc nắp thanh quản, nhưng thường vết loét lan nhanh sang các vùng lân cận, kéo dài xuống dây thanh và viêm dưới thanh quản, phía trên các dải thanh quản. , bên ngoài sụn tuyến giáp, và đôi khi cả sụn vô tuyến.

  • Viêm thanh quản (dây thanh âm) là loại phổ biến nhất và nếu được phát hiện sớm, thường giới hạn ở rìa trên hoặc tự do của dây thanh.

– Thường tăng sản, hiếm khi thâm nhiễm hoặc loét.

– Do các triệu chứng khó biểu hiện sớm nên bệnh nhân có xu hướng đi khám sớm hơn các loại ung thư khác. Ung thư dây thanh tiến triển tương đối chậm, thường sau vài tháng, đôi khi thậm chí một năm, do mô liên kết dưới niêm mạc của dây thanh thường dày đặc và màng bạch huyết thưa thớt. Mô khối u dần dần lan rộng từ bề mặt trên của niêm mạc đến các lớp sâu hơn, và sau đó bắt đầu phát triển nhanh chóng, xuống dưới thanh quản và lên đến dây thanh quản.

– Ung thư dây thanh âm thường khu trú ở một bên trong thời gian dài hơn và sau đó lan sang dây thanh đối diện.

– Từ những tính chất trên, nhiều tác giả cho rằng ung thư dây thanh cũng giống như ung thư da, tiên lượng tốt, phát hiện sớm và điều trị kịp thời là có thể chữa khỏi.

  • Ung thư thanh môn dưới: Có ít xét nghiệm hơn hai loại trên và việc phát hiện khó khăn hơn. Để xác nhận, nên nội soi thanh quản trực tiếp và chụp cắt lớp.

– Loại này thường được xem là loại thâm nhiễm và thường nằm bên dưới dây thanh và do đó bị chặn lại bởi các cánh sụn tuyến giáp, làm cho khối u khó di căn. Khối u thường bắt đầu trên bề mặt dưới của dây thanh và lan xuống lớp dưới niêm mạc, xâm lấn sâu, nhưng các bờ tự do của dây thanh vẫn bình thường, vì vậy trường hợp này hiếm khi xảy ra nếu sinh thiết bằng nội soi gián tiếp. Nội soi thanh quản và đôi khi còn phải rạch tuyến giáp.

– Ung thư thường phát triển nhanh chóng sang bên kia vợt, qua mép trước của thanh quản, và bên dưới sụn chêm. Trong một số trường hợp, khối u lan rộng qua màng hình khuyên hoặc xâm nhập vào bề mặt của sụn viền. Khối u thường lan ra phía trên và phía sau khớp nối hình khuyên, làm bất động dây thanh âm

2. Các triệu chứng lâm sàng của ung thư thanh quản: Các triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào vị trí của ung thư, bao gồm cả thời gian biểu hiện. Ví dụ, khó thở xảy ra sớm hơn nếu khối u kéo dài đến dây thanh âm nhưng cũng giới hạn trong thanh quản, nhưng cảm giác dị vật hoặc khó thở xảy ra sớm hơn nếu khối u nằm trong thanh môn. Nếu khối u nằm ở thanh môn, các triệu chứng ban đầu điển hình là giọng nói yếu và hơi khàn. Triệu chứng này có thể kéo dài vài tháng, người bệnh không cảm thấy nghiêm trọng nên rất ít khi gặp bác sĩ ở giai đoạn này. Các triệu chứng có thể trở nên trầm trọng hơn nếu người bệnh không được kiểm tra hoặc phát hiện bệnh kịp thời.

  • Các triệu chứng:

– Khàn giọng tăng lên và gây ra chứng khó nói, khàn giọng và mất tiếng.

– Khó thở phát triển và nặng dần, triệu chứng này tuy kéo dài nhưng nhẹ và người bệnh thích nghi, nhưng sau đó xuất hiện khó thở theo từng cơn, nhất là khi bị kích thích. Gây co thắt thanh quản, đôi khi có bội nhiễm thứ phát (bệnh cấp tính giống cúm, phù do phóng xạ), khó thở dữ dội, thường phải mở khí quản cấp cứu (chúng tôi gặp một số đáng kể trong số này, khoảng 10-12%). Ung thư dây thanh, khó thở xuất hiện muộn hơn (vài tháng sau, có khi một năm sau), trong khi ung thư thanh môn xuất hiện sớm hơn, khó thở co rút khi hứng là triệu chứng đặc trưng của ung thư thanh quản. thanh môn.

– Ho: Cũng là một triệu chứng thường gặp, nhưng thận trọng và gây khó chịu, đôi khi có những cơn ho co thắt.

– Đau: chỉ xảy ra khi khối u đã lan đến cổ họng trên, đặc biệt nếu mô khối u đã bị loét. Cơn đau thường lan đến tai và dữ dội khi nuốt.

– Ở giai đoạn nặng, biểu hiện khó nuốt và sặc thức ăn, dịch tiết xâm nhập vào đường thở gây ra những cơn ho. Ở giai đoạn này, toàn bộ tình hình cũng bị ảnh hưởng.

  • Khám lâm sàng: Nếu ung thư giai đoạn đầu, khối u thường nằm ở một bên dây thanh, biểu hiện một nốt nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ, thường gặp ở dây thanh trước. một nửa của dây thanh. thanh hoặc cạnh trước. Trong một số trường hợp riêng lẻ, các khối u có thể bắt nguồn từ phía sau dây thanh âm, thường có vết loét do va đập (ở đầu thanh quản hoặc đường viền sau của sụn dây thanh quản), đôi khi có hình quả dâu, có cuống và khớp cắn. Chiều dài của dây thanh âm hoặc về phía bên kia của dây thanh. Polyp có dòi ít phổ biến hơn và đôi khi giống như u nhú màu trắng xám ở mặt trước của thanh quản. Nếu u thâm nhiễm, dây thanh thường to và hình thoi, bề mặt không bằng phẳng, có màu hồng đỏ, đôi khi kèm theo những vết loét rộng, phủ một lớp màng giả màu trắng. Khả năng vận động sớm của dây thanh bị ảnh hưởng nhiều nếu tăng sinh, nhưng hơi hạn chế nếu thâm nhiễm. Việc đánh giá chuyển động của dây thanh rất quan trọng trong việc chỉ định điều trị. Hai bên dây thanh thường có dấu hiệu viêm thanh quản mãn tính, sưng tấy nhẹ và đỏ nên khó chẩn đoán nên cần phải thăm khám cẩn thận, đặc biệt nếu dây thanh hai bên không đối xứng. Nếu ở giai đoạn nặng, khối u đã di căn ra toàn bộ dây thanh, thành trước, đỉnh, mép sau lan xuống thanh quản, dây thanh quản, viêm dưới thanh môn làm hẹp dần lòng thanh môn gây viêm loét, chảy máu. Vết loét thường sâu, rìa không đều và chắc. Nếu khối u bắt đầu ở thanh quản, niêm mạc sẽ sa xuống để che phủ dây thanh hoặc thâm nhiễm vào dây thanh và dây thất. Nếu u dưới thanh môn, trước hết cử động của dây thanh bị hạn chế, sau đó lan rộng ra ngoài đường giữa nên dễ nhầm với u thanh môn. Nếu khối u ở thanh môn ít được phát hiện sớm, dải phù nề thanh quản bao phủ dây thanh bên, niêm mạc dày lên và cứng lại, vết loét nhanh chóng lan xuống thanh môn và xoang. Lê. Do đó, các khối u ở khu vực này thường xuất hiện ở giai đoạn nặng dưới dạng thâm nhiễm hoặc tăng sinh, đôi khi bị loét và lan đến hố trước thanh quản. Khi soi thanh quản gián tiếp, rất khó quan sát thấy các vết loét ở bề mặt dưới của nắp thanh quản, và chỉ có rất ít bờ trên của các chồi ung thư. Dần dần toàn bộ lòng thanh quản bị khối u lấn át, dần dần loét, tái nhiễm và hoại tử, gây viêm và sụn thanh quản, từ đó lan ra các mô mềm phía trước thanh quản, có khi gây ra các lỗ rò. Vết hoại tử có mùi ôi thiu, rỉ mủ và máu, đôi khi xuất huyết do các mạch máu lớn mưng mủ và hoại tử. Ở giai đoạn này, người bệnh nhìn chung yếu và suy kiệt dần, đồng thời phát triển thành di căn hạch cổ, đặc biệt là ung thư nắp thanh quản. Hạch hầu hết nằm ở nhóm động mạch cảnh trên, lúc đầu hạch sưng to và không đau, sau đó hợp lại thành một khối dính vào các mô lân cận, chẳng hạn như cơ ức đòn chũm, đôi khi dính vào thanh quản thành khối. Khối hạch này lớn lên rồi dính vào các hạch khác ở cổ nên rất cứng, chắc, một số trường hợp bị nhiễm trùng nhiều lần có thể dẫn đến rò. Bệnh ung thư vòm họng nếu không được điều trị thường chỉ kéo dài một năm hoặc 18 tháng và tử vong thường do ngạt cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy hoặc chảy máu ồ ạt.

3. Di căn ung thư thanh quản:

  • Các hạch cổ: Di căn hạch cổ cũng khác nhau tùy thuộc vào vị trí tổn thương của khối u, vì nó phụ thuộc vào hệ thống bạch huyết trong khu vực. Hệ thống bạch huyết này thường có hai mạng lưới được xác định rõ ràng: một ở thanh môn và một ở dưới thanh môn, ngăn cách bởi dây thanh.

– Thanh môn bao gồm các mạch bạch huyết từ tiền đình thanh quản đến thân bạch huyết, qua phần bên của màng giáp và phần cuối của các hạch bạch huyết động mạch cảnh trên.

– Lưới dưới thanh quản cũng khá nhiều, tuy không dày đặc như nắp thanh quản nhưng đổ về một thân bạch huyết, sau đó chia thành 2 nhánh, nhánh trước đi qua màng cận giáp và đổ về hạch trước. Nó đi đến khí quản, sau đó gia nhập vào tĩnh mạch hình nón dưới, và nhánh sau đi qua màng hình khuyên của khí quản, kết thúc trong các hạch bạch huyết thoái triển, và đến tĩnh mạch hình nón dưới.

– Tại đường phân ranh giới, dây thanh, hệ thống bạch huyết nhỏ và trải ra dọc theo dây thanh trước khi kết nối với mạng lưới thanh quản – tiền đình hoặc dưới thanh môn. Do đó, di căn hạch cổ thường xảy ra sớm hơn trong ung thư thanh môn, trong khi di căn trong ung thư hạ thanh môn xảy ra muộn hơn. Các hạch bạch huyết vùng này có xu hướng nằm sâu và khó khám trên lâm sàng.

  • Di căn xa trong ung thư thanh quản ít gặp hơn trong ung thư hầu, và theo nhiều tác giả, di căn phổ biến nhất là đến phổi (4%) sau đó là cột sống, cột sống, gan, dạ dày, thực quản ( 1,2%). Cho đến nay vẫn chưa xác định được yếu tố nào liên quan đến khối u nguyên phát và sự di căn xa của phổi và phế quản, vì vậy cần phải kiểm tra các tổn thương ở phổi trước khi điều trị ung thư thanh quản.
  • ul>

    v. Chẩn đoán:

    1. Chẩn đoán rõ ràng: Ung thư thanh quản nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời thì tỷ lệ chữa khỏi sẽ ngày càng cao. Nó khác với ung thư thanh môn và ung thư hầu họng vì các triệu chứng ban đầu rất tinh tế và không rầm rộ. Do đó, người bệnh dễ bị bỏ qua và không đi khám, ung thư thanh môn có xu hướng xuất hiện sớm, với các triệu chứng như khó nói, khàn tiếng, vì vậy người bệnh nên đi khám sớm. Ngoài ra, ung thư thanh quản phát triển chậm hơn các loại ung thư khác, dễ phát hiện, điều trị kịp thời có kết quả tốt. Đáng tiếc, một số trường hợp do bệnh nhân đến muộn hoặc do bác sĩ chẩn đoán nhầm thuốc điều trị viêm thanh quản mãn tính nên chậm trễ thời gian, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị sau này. Vì vậy, ở những bệnh nhân lớn tuổi, nam giới, khàn tiếng kéo dài 3-4 tuần và đã điều trị bằng kháng sinh, thuốc chống phù nề mà không đỡ, cần theo dõi và thăm khám cẩn thận để loại trừ ung thư vòm họng, đặc biệt nếu bệnh nhân bị dấu hiệu khó nói, họng Có cảm giác dị vật, khó nuốt và nuốt, phản xạ đau ở tai hoặc hạch cổ. Khi khám nên gây tê vùng họng làm phản xạ của bệnh nhân bị suy yếu, nếu khối u xuất phát từ bờ quy đầu thì phải khám trực tiếp tổn thương, đánh giá chính xác tổn thương, làm sinh thiết để xác định. tổn thương. Chuẩn đoán chính xác.

    Nếu có tổn thương ở một bên thanh quản, tổn thương vẫn còn khu trú và khả năng vận động của dây thanh hơi khác nhau, cần theo dõi và làm các xét nghiệm cần thiết để loại trừ ung thư.

    Xem thêm: Junk Mail là gì? Cách gửi Mail để không bị liệt vào Spam

    2. Chẩn đoán phân biệt:

    – Viêm thanh quản phì đại mãn tính với viêm da khu trú Viêm thanh quản có loét tiếp xúc thanh quản hoặc sa niêm mạc thanh quản.

    – Cần chẩn đoán phân biệt lâm sàng sớm với bệnh lao thanh quản (bệnh lao dây thanh hay bệnh lao hạch). Xâm lấn biên giới sau rất giống với tổn thương lao, nhưng tổn thương lao hiếm khi bắt nguồn từ vị trí này.

    – Tổn thương lupus, thường gặp ở nắp thanh quản và thanh quản, nhưng có đặc điểm là cùng tồn tại nhiều dạng (loét, thâm nhiễm và xơ hóa. Sẹo) nên chẩn đoán phân biệt không khó lắm.

    – Giang mai giai đoạn 3, giai đoạn loét cũng dễ bị nhầm lẫn với ung thư biểu mô thanh quản hoặc ung thư biểu mô xâm lấn. Nếu ở giai đoạn loét thì cần phân biệt với u tiền đình thanh quản hoặc ung thư thanh quản. Vết loét không đều, vết loét do núi lửa, xung quanh da rắn, có màu đỏ như thịt bò, không quá đau là đặc điểm của vết loét giang mai.

    – Dây thanh một bên bất động nên được phân biệt với liệt thoái hóa hoặc viêm dây thanh.

    – Các khối u lành tính cần được phân biệt với polyp, u nhú vì những khối u này có thể dễ dàng trở thành ung thư, đặc biệt là ở người lớn tuổi và nam giới. Do đó, trong những trường hợp này, cần phải khám và theo dõi thường xuyên và nếu cần thiết, sinh thiết nhiều lần.

    – Ở giai đoạn nặng, việc chẩn đoán không khó vì các triệu chứng rõ ràng như mất tiếng, khó thở, khó nuốt, hạch cổ cố định. Đặc biệt khi soi thanh quản, khối u rất rõ, rất to, chiếm diện tích. một phần của thanh quản, và trong một số trường hợp đã lan sang các mô lân cận. Giai đoạn này thường kèm theo bội nhiễm nên tình trạng phù nề, viêm màng mạch cũng rõ hơn, giúp xác định bệnh rõ ràng hơn. Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác, ngoài khám lâm sàng cần làm một số khám cần thiết như huyết thanh loại trừ giang mai, chụp Xquang phổi, xét nghiệm lao để loại trừ lao thanh quản… Ngoài ra, sinh thiết là yếu tố quyết định trong chẩn đoán, giúp chúng ta lập kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh. Nếu lần đầu sinh thiết âm tính nhưng vẫn còn nghi ngờ thì cần đi sâu hơn, trường hợp khó thì nội soi, thậm chí mở sụn giáp. Trong một số trường hợp, mặc dù không nhiều, nhưng kết quả vi thể có thể là một tổn thương giang mai, ung thư hoặc bệnh lao và ung thư. Trường hợp không xác định được tổn thương ác tính thì phải điều trị một đợt thuốc chống lao, chống giang mai, theo dõi và khám định kỳ trong nhiều năm để tránh “bỏ sót” ung thư. Trường hợp khác, một bệnh nhân ung thư thanh quản vừa bị lao phổi nhưng chưa có tổn thương lao ở họng thì phương án điều trị ung thư và lao phải được phối hợp chặt chẽ.

    vi. Danh mục:

    Theo phân loại của Hiệp hội chống ung thư quốc tế (uicc): theo hoạt động của dây thanh, xuất hiện hạch cổ, di căn xa theo hệ t.n.m

    • t (u): khối u.

    – Ung thư tuyến:

    tis: Khối u tiền xâm lấn.

    t1: Khối u nằm ở bề mặt dưới của nắp thanh quản, hoặc ở một bên của nẹp thanh môn, hoặc ở một bên của thanh quản, hoặc ở một bên của thanh quản.

    t2: Khối u thanh môn đã di căn đến thanh quản hoặc thanh quản.

    t3: Tương tự như t2, nhưng dẫn đến dây thanh âm.

    t4: Khối u thứ 3 nhưng đã lan đến xoang bướm, sụn viền sau, nắp thanh quản và mỏm khoeo

    – Khối u tuyến:

    tis: Khối u tiền xâm lấn.

    t1: Bạn đang ở một bên dây thanh, vẫn cử động bình thường.

    t2: u ở cả hai dây thanh âm, thường hoạt động hoặc cố định.

    t3: Khối u đã lan đến thanh quản hoặc đã lan đến thanh môn.

    t4: Giống như t1. t2. t3. Nhưng sụn giáp đã bị vỡ và lan ra da, khoang màng phổi, hoặc sau sụn chêm.

    – Khối u tuyến:

    tis: Khối u tiền xâm lấn.

    t1: Khối u nằm ở phía dưới thanh môn.

    t2: Khối u đã di căn sang hai bên thanh môn.

    t3: Khối u dưới thanh môn đã di căn đến dây thanh.

    t4: Giống như t1. t2.t3 nhưng đã lan ra vùng sau khí quản, da hoặc sụn chêm.

    • n (node): hạch ở cổ.

    n0: Không sờ thấy được hạch bạch huyết.

    n1: Hạch một bên vẫn di động.

    n1a: Đánh giá các hạch bạch huyết của người mẹ để tìm di căn.

    n1b: Đánh giá hạch di căn.

    n2: Các hạch bạch huyết đối bên hoặc hai bên vẫn còn di động.

    n2a: Đánh giá các hạch bạch huyết của người mẹ để tìm di căn.

    n2b: Đánh giá hạch di căn.

    n3: Nút cố định.

    • m transfer): chuyển giao xa.

    m0: Bố bị di căn xa.

    m1: Có di căn xa.

    Bảy. Điều trị: Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật kết hợp với xạ trị sau phẫu thuật. Cho đến nay, có 3 cách tiếp cận chính: xạ trị đơn thuần, phẫu thuật đơn thuần và phẫu thuật kết hợp xạ trị. Những trường hợp xuất hiện sớm, khu trú, có thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc tia xạ đơn thuần nếu người bố bị di căn hạch cổ. Chỉ định này còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ hoặc các trường phái tư tưởng, vì kết quả cho thấy việc lựa chọn một trong hai cách tiếp cận được mô tả ở trên và cách xử lý trong quá trình điều trị có sự khác biệt nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam và một số nước khác, phần lớn bệnh nhân đến khám muộn hơn nên cần kết hợp nhiều phương pháp điều trị để đạt hiệu quả tốt. Trong 10 năm qua, nhiều báo cáo đã đề cập đến việc sử dụng hóa chất, loại hình miễn dịch interferon không đặc hiệu,… nhưng vẫn còn những tranh chấp trong quá trình thực nghiệm.

    • Phương pháp phẫu thuật: về nguyên tắc có hai loại, phẫu thuật bảo tồn hoặc cắt thanh quản bán phần, bệnh nhân có thể thở theo đường sinh lý tự nhiên sau phẫu thuật, còn phẫu thuật cắt thanh quản triệt để hoặc cắt thanh quản toàn bộ thì sau phẫu thuật bệnh nhân phải thở máy. qua lỗ mở khí quản, được khâu trực tiếp vào da cổ, và không thể phát âm qua các đường sinh lý tự nhiên (âm thanh thực quản, qua máy trợ thính, hoặc qua phẫu thuật giọng nói).

    Phương pháp phẫu thuật được lựa chọn tùy theo vị trí khối u, sự lây lan và di căn hạch cổ tử cung.

    Cắt bỏ một phần thanh quản : Nếu khối u vẫn nằm ở ranh giới tự do của nắp thanh quản, phương pháp huet được sử dụng để cắt bỏ thanh quản. Nếu khối u vẫn còn ở hạ thanh quản và thanh quản, nên thực hiện cắt bỏ qua thanh quản bằng phương pháp anlonso. Nếu khối u đã lan đến thanh môn trên và bờ đáy, một thủ thuật anlonso được thực hiện, loại bỏ khối u và đưa một cây kim vào vùng van hai lá còn lại. Nếu ung thư ở vách liên thất nhưng đã xâm nhập vào sụn giáp thì có thể cắt một nửa thanh quản, nhưng nếu khó bóc tách sụn trong sụn giáp, tức là khối u đã thâm nhiễm vào sụn giáp thì phải. được gửi lại. Cắt thanh quản toàn bộ.

    Nếu có di căn hạch cổ tử cung, việc bóc tách hạch cổ điển hoặc bảo tồn được quyết định tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

    Viêm nắp thanh quản loại huet: Chỉ thích hợp với những khối u còn giới hạn trong ranh giới tự do của thanh quản, còn nếu là một nốt đơn giản thì nó có nhiều tác dụng. Xạ trị Sham (nhạy cảm với bức xạ). Thủ thuật bao gồm cắt bỏ phần đinh trên, cắt sừng trên và sừng trước của sụn giáp thành hình tam giác với đáy ở trên và đỉnh ở dưới, sau đó cắt màng giáp cùng với toàn bộ nắp thanh quản bằng dao điện. và dây thanh quản.

    Cắt ngang thanh quản anlonso: Mục đích của thủ thuật này là để bảo tồn thanh môn đi xuống của thanh quản, nhưng các chỉ định cho thủ thuật này phải được đánh giá. Tổn thương xác định, tức là khối u giới hạn ở nắp thanh quản và dây thanh quản, sụn dưới dây thanh vẫn bình thường (dây thanh âm di động tốt). Vì vậy, ngoài khám lâm sàng còn phải dựa vào chụp cắt lớp thanh quản.

    Cắt bỏ thanh quản: Phương pháp này thích hợp cho các khối u vẫn còn giới hạn trong dây thanh âm và lan đến ranh giới trước và đỉnh của tim (t1). Sau khi bộc lộ sừng trước của sụn giáp, người ta rạch một đường ở đường giữa để bộc lộ thanh quản, có thể thấy rõ các dây thanh bị tổn thương, có thể cắt toàn bộ dây thanh từ bờ trước đến bờ trước bằng chung. dao, kéo cong, hoặc dao điện. Đầu dải.

    Cắt bỏ thanh quản bên Leroux-robert: Trong một ngày khi khối u đường viền trước đã lan đến dây thanh nhưng dây thanh vẫn cử động bình thường. Mục đích của phẫu thuật này là loại bỏ một phần sừng trước của sụn giáp và cấu trúc mộng thịt và viền trước của dây thanh ở bên bị bệnh (bao gồm cả dây thanh âm hoặc một phần của sụn dưới sụn), và nửa trên của dải não thất bên sau phẫu thuật. Giải phẫu niêm mạc dây thanh.

    Cắt thanh quản quy đầu: Đối với các khối u ở rìa trước hoặc đã lan ra dưới đường viền trước của thanh quản, không cần phẫu thuật đối với loại này nếu khối u đã lan ra phía trên chân của thanh quản. . Vì vậy, trong thực tế ở Việt Nam, thủ tục này ít được sử dụng. Trong các giai đoạn phẫu thuật khác và trong phẫu thuật cắt thanh quản trán bên, sau khi tiếp xúc với sụn tuyến giáp, một phần sừng trước của sụn giáp được cắt ra theo hình tam giác cùng với cơ ức đòn chũm và viền trước của thanh quản.

    Phẫu thuật cắt thanh quản Hautant: Không giống như phẫu thuật cắt 1/2 thanh quản cổ điển, phương pháp tiếp cận hautant bảo tồn mỏm cụt và mỏm sau để bảo tồn mỏm cụt. Tuy nhiên, theo báo cáo của nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam (Viện Tai Mũi Họng), đây là loại phẫu thuật thường xuyên tái phát, hiệu quả kém và thường gây ra nhiều biến chứng phẫu thuật (hẹp thanh quản, cắt khí quản phải … .). ) Do đó, một số tác giả tái tạo lại khoang thanh quản bằng cách ghép da chỉnh hình đồng thời để làm cho nó đủ rộng để đảm bảo một đường thở sau này.

    Cắt dây thanh quản được dành riêng cho các khối u dây thanh âm đã lan đến sụn dưới dây thanh, khớp quặt và vùng dưới thanh quản của thanh quản nhưng không đến ranh giới trước và sau. Do đó, chỉ định này cũng hạn chế nên chúng ta ít sử dụng thủ thuật này trong những năm gần đây.

    Cắt toàn bộ thanh quản: Thủ thuật này được thực hiện phổ biến nhất ở Việt Nam do bệnh nhân đến quá muộn. Đối với những khối u đã di căn sang hai bên thanh quản. Nguyên tắc của phẫu thuật này là giống nhau, có một số khác biệt trong kỹ thuật và hoạt động, tùy thuộc vào mức độ di căn của khối u và sở thích của phẫu thuật viên. Mục đích của phẫu thuật này là cắt bỏ toàn bộ cổ họng. Đây là một thủ thuật khiến bệnh nhân và người nhà ngại ngần vì bệnh nhân mất khả năng giao tiếp với xã hội sau ca mổ. Vì những lý do chính đáng đó, 20 năm qua đã cho thấy kết quả khả quan trong việc phục hồi chức năng nói của nhiều bệnh nhân cắt thanh quản toàn phần. Do đó, thủ thuật này đã được áp dụng rộng rãi do sự an toàn của bệnh nhân và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Nói chung, cắt toàn bộ thanh quản có thể được thực hiện theo nhiều cách: từ dưới lên trên, trên xuống dưới, từ phải sang trái, và ngược lại tùy theo vị trí của khối u, về nguyên tắc: cắt toàn bộ khối u phải là lần cuối cùng, ngoài ra Việc giữ lại một phần hoặc toàn bộ sụn vành tai tùy thuộc vào mức độ lan rộng của khối u, vì giữ lại sụn chêm có thể tránh được di chứng hẹp khí quản và dễ khiến bệnh nhân bỏ thở.

    • Xạ trị: Cho đến nay, việc sử dụng nguồn phóng xạ để điều trị các khối u ác tính là một trong những biện pháp cơ bản và quan trọng nhất, đặc biệt là ở vùng đầu cổ. Có nhiều phương pháp xạ trị khác nhau, nhưng những phương pháp chính là:

    – Xạ trị đơn thuần.

    – Xạ trị kết hợp với phẫu thuật, trước hoặc sau phẫu thuật, hoặc xạ trị-phẫu thuật-xạ trị (sandwich).

    Phương pháp nào được sử dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như: bệnh cục bộ của khối u, giai đoạn của bệnh, đặc điểm mô học của khối u, tình trạng chung của bệnh nhân và kinh nghiệm. và các đặc quyền của bác sĩ. Khi khối u còn khu trú và nhạy cảm mô học với tia xạ, đa số bệnh nhân được xạ trị đơn thuần, trong thời gian theo dõi nếu có tái phát có thể phẫu thuật bổ sung. Nghệ thuật (chirugie de plagiarism). Xu hướng hiện nay ở nhiều trường là mổ trước rồi kết hợp tia xạ sau mổ u, hạch cổ. Mục đích của việc sử dụng tia xạ trước khi phẫu thuật là thu nhỏ khối u và hạch bạch huyết hoặc ức chế sự phát triển của khối u và hạch để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phẫu thuật. Nhưng phương pháp này cũng mang lại khó khăn cho ca mổ, vì mô bị chiếu xạ thường gây xuất huyết, đặc biệt là các mạch máu lớn thâm nhiễm rất dễ bị tổn thương trong quá trình bóc tách, khó phân biệt mô u với mô lành. viêm nhiễm. Vì vậy, trong những năm gần đây, các chỉ định của phương pháp này ít được sử dụng.

    Sau khi phẫu thuật, bức xạ được thiết kế để tiêu diệt các tế bào ung thư nghi ngờ hoặc các tổn thương ung thư chưa được phát hiện để lại do phẫu thuật khối u và hạch bạch huyết. Bức xạ sau phẫu thuật được chiếu trực tiếp vào vị trí khối u được cắt bỏ và các hạch bạch huyết không bị tắc nghẽn (bao gồm cả những hạch bạch huyết không thể sờ thấy trên lâm sàng). Hiện nay người ta thường sử dụng nguồn bức xạ co60 và bổ sung thêm điện tử, nhưng ở Việt Nam, co60 chủ yếu được sử dụng theo phương pháp laze thẩm thấu qua da, còn phương pháp tán xạ đều tia thường theo loại bức xạ, 200r (2gy) một lần. một ngày. Khối lượng, bản chất và sự lây lan của khối u và hạch bạch huyết, tổng liều bức xạ tới khối u và hạch bạch huyết trung bình là 55-70 gy trong 5-7 tuần (10-12 gy mỗi tuần). Nếu sau liều này, khối u hoặc hạch đã hoàn toàn biến mất, có thể tăng liều bức xạ để tập trung vào các tổn thương còn lại. Sử dụng điện tử nếu có thể, nếu không có co60, có thể bổ sung liều 10-15 gy tùy theo thể tích và vị trí khối u còn lại. Đối với phần mô hạch còn lại, một số tác giả tiến hành phẫu thuật khi điều kiện cho phép, hoặc chọc kim ir192 tại chỗ cũng đạt kết quả khả quan.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.