Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các bài viết của Vuihecungchocopie.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "vuihecungchocopie". (Ví dụ: công thức giải rubik 3x3 vuihecungchocopie). Tìm kiếm ngay
19 lượt xem

Pháp môn Tịnh độ

Bạn đang xem: Pháp môn Tịnh độ Tại Vuihecungchocopie                        

Bạn đang quan tâm đến Pháp môn Tịnh độ phải không? Nào hãy cùng Vuihecungchocopie đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Giáo lý Tịnh độ dựa trên ba bộ kinh và một thuyết, bao gồm: Kinh A Di Đà của Đức Phật, Kinh Vô Lượng Thọ, và Kinh Vô Lượng Thọ (còn gọi là Kinh Vô Lượng Thọ). Chẳng hạn như 160) .Xem kinh) và lưu ý rằng Bồ tát vãng sanh Tịnh độ Nghiêm cõi Cực lạc, thuyết phục tất cả chúng sanh phát nguyện vãng sanh về thế giới đó, và tinh tấn trì danh. Tụng kinh Phật.

Trên núi ky xa dat, thuộc thành phố vua, ngài đã thuyết giảng “Kinh Vô Lượng Thọ”, mô tả quá trình các nhà sư Phật giáo (tiền thân của đức A Di Đà) thực hành Bồ tát đạo, trong khi các nhà sư hy sinh. chính mình ở trước Đức Phật và phát nguyện bốn mươi tám lời nguyện, làm đẹp đất Phật, hóa độ chúng sinh. Tiếp theo, tôi sẽ nói về công đức tu hành, trí tuệ của các bậc thánh hiền ở thế giới bên kia khiến muôn loài muôn loài trở về. Trong cung điện, thành phố Sora, được lệnh của nữ hoàng. vi de hy, ngài đã giảng về pháp quán vô lượng thọ, và chỉ bày ra mười sáu phương pháp quán niệm để vãng sanh về cõi tịnh độ.

Bạn đang xem: Pháp môn tịnh độ là gì

Hóa thân của Bồ tát trong các thế hệ sau này, theo Kinh Vô Lượng Thọ, tạo ra một cõi tịnh độ, tán thán cực lạc và trang nghiêm, và phát huy năm cửa niệm (li, tán thán, phát nguyện, quán tưởng và hồi hướng) là các yếu tố của sự tái sinh. Ngoài ba bộ kinh trên và một bộ kinh, còn có nhiều bộ kinh Đại thừa khác, chẳng hạn như Heyan, Fahua, Kho báu v.v. Tịnh độ của Phật. A Di Đà.

Pháp môn Tịnh độ còn được gọi là Pháp môn Tụng kinh. Tụng niệm danh hiệu Phật có nghĩa là phải có tâm thanh tịnh niệm danh hiệu, thần thông và thân của Đức Phật. Chánh niệm là ghi nhớ và suy nghĩ, buộc tâm vào một đối tượng Chánh pháp, không lang thang trong trần lao của tâm, thường thức, luôn luôn rõ ràng trước mặt. Tụng kinh là quán tưởng thân hay niệm danh hiệu của Đức Phật, danh hiệu này bao hàm công đức, trí tuệ, lòng từ bi của tất cả chư Phật…. Hãy nghĩ đến đối tượng trong tên, và nghĩ đến tâm thanh tịnh làm chủ thể, và sẽ có thể đạt được cảnh giới của cực lạc thực sự.

Hành giả niệm Phật hay quán tưởng oai nghi của Phật thân với tâm thanh tịnh sẽ tạo thành pháp lực sâu xa, xóa tan mọi mê muội, phát khởi tự tánh A Di Đà trong lòng mọi người. Từ đây, quyết tâm của hy vọng kết thúc, và trạng thái tinh khiết kỳ diệu sẽ được tiết lộ. Kinh “Quán Vô Lượng Thọ” nói: “Đức Phật Như Lai thân Pháp giới nhập tâm chúng sanh, tâm niệm Phật thì tâm ba mươi hai thiện báo, tâm đó là. Đức Phật. Đại dương trí tuệ của Đức Phật đến từ tâm. Vì vậy, bạn phải nhớ suy nghĩ sâu sắc và quán tưởng về thân của Đức Phật. “

Lập trường căn bản của Phật giáo Tịnh độ là dựa trên nhân quả, tức là có nhân quả. Điều này khẳng định rằng trong tương lai, nếu muốn trở thành một vị thánh trong cõi cực lạc, thì những người tu hành ngày nay phải có tư cách của một vị thánh. Vì vậy, trong đời này, phải thường xuyên chuyển hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý để thanh tịnh. Ví dụ, học sinh đi học và phải tiến bộ ở cấp lớp để mong đợi một ngày thành công tốt đẹp. Người niệm Phật cũng vậy, nếu hôm nay chỉ sống buông thả, không nỗ lực tinh tấn tu hành mà cứ cầu xin, tin rằng ngày mai có Phật sẽ cứu mình. Nếu nghĩ như vậy là đi ngược lại nguyên lý nhân quả, giống như giáo lý của ngoại đạo, và hoàn toàn không phù hợp với giáo lý của đạo Phật.

Như vậy, người niệm Phật muốn vãng sanh Cực Lạc, ngoài Phật lực che chở, phù trợ, còn cần phải tu thân, tức là tu Tịnh độ phải có người tu chân chính. Theo “Kinh Vô Lượng Thọ”, hành giả phải hội đủ ba điều kiện để được vãng sinh về Cực Lạc: “Một là hiếu thảo với cha mẹ, tôn thờ sư phụ, một lòng từ bi, không sát hại chúng sinh. là thực hành mười điều lành, hai là quy y ba luật Thứ ba là phát bồ đề tâm, tin nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên mọi người cùng thực hành Ba điều trên gọi là người tịnh độ tịnh độ, có thể quy về hai vấn đề chính: phát khởi Bồ đề tâm và nghiêm trì giới luật thanh tịnh. Bồ đề tâm là gì, nghĩa là tìm Phật quả trong tâm và phát nguyện cứu độ chúng sinh. không phát Bồ đề tâm thì dù có tu hành siêng năng cũng vô ích. ”Kinh Hoa Nghiêm dạy:“ Nếu quên phát Bồ đề tâm, dù làm việc thiện cũng vô ích. “Vì vậy, hành giả muốn vãng sanh thì phải khơi dậy Bồ đề tâm. Đây là điểm không thể thiếu đối với người Phật tử nói chung, đặc biệt là người tu Tịnh độ. Giới luật mà bản thân đã tu hành, tu tập. Bất cứ tông phái nào của Phật giáo cũng không thể tách rời giới luật. , vì giới luật Là nền tảng vào Đạo, là trường sinh của Phật pháp, không có giới luật thì trí tuệ định không sinh, giới định định chưa sinh thì pháp thân ở đâu. Ngài nói: “Chánh pháp là nền tảng của ba phương tiện, và Tịnh độ là nền tảng của ba phương tiện. “Một hành giả nghiêm trì giới luật, và niệm danh hiệu của Đức Phật cho thấy tác dụng tuyệt vời của nó. Như đã dạy trong” Tóm tắt của Vô lượng thọ “:” Một câu niệm danh hiệu của Đức Phật có thể tiêu trừ 80.000.000 nghiệp dư “. tội lỗi lớn. “.

Trên nền tảng của Bồ đề tâm và sự tuân thủ nghiêm ngặt giới luật thanh tịnh, các hành giả phát triển mong muốn tạo ra một cõi tịnh độ. Để được sinh ra trong cõi tịnh độ này, người ta phải có ba phẩm chất quyết định là đức tin, lòng sùng mộ và hạnh kiểm.

Xem thêm: Time On Site Là Gì|Time On Page Là Gì|5 Kỹ Năng Tăng Time On Site

Đức tin là đức tin, là cánh cửa quan trọng dẫn đến tôn giáo và là nguồn gốc của mọi công đức. Một Phật tử không tin sẽ không thoát khỏi sự sống và cái chết, nhưng kết quả là sẽ đạt được hòa bình và giải thoát. Bởi vì tất cả những điểm mạnh và điểm yếu đều được xây dựng trên niềm tin, trên niềm tin. Bên cạnh niềm tin tuyệt đối, trong sáng nơi Tam Bảo, người tu niệm Phật, trí tuệ sáng suốt, trí tuệ sáng suốt, chắc chắn càng tăng thêm niềm tin vững chắc đối với pháp môn niệm Phật. Niềm tin này dựa trên ba điểm.

Trước hết, các hành giả tin rằng Đức Phật Thích Ca đã tận mắt chứng kiến ​​Cực Lạc, và những lời tuyên bố của Ngài về cảnh giới cực lạc và thuyết phục chúng sinh thực hiện nguyện vọng vãng sanh Tây Phương là có thật. Hai là tin Phật A Di Đà và phát nguyện bốn mươi tám đại nguyện cứu độ chúng sinh. Ba là tin tự tánh thanh tịnh, tin tự tánh thanh tịnh, kiếp này niệm Phật thì kiếp sau quyết định vãng sanh Cực Lạc.

Trên nền tảng của niềm tin, hành giả muốn được vãng sinh về Cực Lạc cần phải có đủ yếu tố thứ hai, đó là lòng ham muốn. “Bồ đề tâm kinh” của Đạo sư Jing’an nói: “Cánh cửa dẫn đến con đường đúng đắn, hãy làm chủ trái tim, khẩn trương thực hành, phát nguyện trước, và nếu bạn có nguyện, cứu tất cả chúng sinh, bạn sẽ được cứu, và Con đường của Phật sẽ thành hiện thực. ”

Theo giả trí thức thien thai, mong muốn được sinh về hướng Tây bao gồm hai điều, phước và nguyện. Trái tim ngăn cách là một trái tim buồn tẻ. Hành giả phải thường xuyên quán chiếu sắc pháp huyễn này, nó chỉ là sự kết hợp của năm uẩn, bao gồm khổ và bất tịnh. Những đau khổ của cuộc đời luôn đâm xuyên, như một mũi tên độc xuyên qua da. Với sự quán chiếu liên tục như vậy, hành giả sẽ phát triển một tâm trí khó chịu, không còn say mê về thân xác và mọi thú vui và lạc thú thế gian. Trái tim từ bỏ thế giới của chúng ta càng lớn thì ý chí sinh ra càng lớn. Những người niệm Phật từ trước đến nay đều chỉ có một tâm nguyện, đó là càng sớm càng tốt ra khỏi ngục tù hiện tại, mai sau được sanh về thế giới cực lạc. Niềm khao khát vô bờ bến ấy không khác gì người xa lạ mong về quê, người xa cha mẹ mong ngày sum họp. Kính trọng như cha mẹ ”.

Nguyện lực được viên mãn, nhưng còn thiếu sự tu tập, người tu tịnh độ khó thành tựu, nên phải chú tâm tu tập. Đại vương đã từng dạy: “Tái sinh là dựa vào tín tâm và nguyện lực; phẩm hạnh tùy theo tu hành nông hay sâu.” ứng xử đúng đắn. Ứng xử đúng đắn ở đây là tâm thanh tịnh và luôn giữ thánh hiệu của Đức Phật. Theo Pháp Môn Tịnh Độ, pháp môn niệm Phật bao gồm bốn trọng điểm, đó là chân nghĩa, niệm Phật, niệm ảnh, niệm Phật.

Thật sự, niệm Phật là có thể nhập vào chân đế đệ nhất, niệm Phật tánh. Bản thể ban đầu là thanh tịnh và yên tĩnh, không bị ô nhiễm của phiền não. Hành giả chuyên tâm vào Phật tánh, không động tâm, không truy cầu trời, tâm dần dần sáng suốt, có thể vào một cảnh giới.

Niệm Phật là hành giả quán tưởng chiếc áo cà sa đích thực của Đức A Di Đà và cõi Cực Lạc, cho đến khi mở hoặc nhắm mắt, người đó có thể nhìn thấy rõ ràng cõi Cực Lạc.

Tham quan tượng Phật, là hành giả luôn hướng tâm về tượng Phật A Di Đà, cho đến khi tượng của Ngài không có mặt trước hay mặt thì hình ảnh uy nghi của Phật A Di Đà vẫn hiện ra trước mắt. .

Xem thêm: Nhóm Họ Là Gì – Miền Nam Tổ Chức Lễ Cưới Thế Nào

Cuối cùng, danh hiệu của Đức Phật được niệm, nghĩa là thầm hoặc niệm bốn ký tự A Di Đà hoặc sáu ký tự Nam Mô A Di Đà. Người tu hành, hãy thành tâm niệm Phật, không có tạp niệm, chỉ niệm danh hiệu Phật, dần dần sẽ nhập vào một cảnh giới. So với ba cửa đầu, pháp môn niệm Phật đơn giản hơn một chút, dễ tu, dễ thành tựu hơn. Đây thực sự là sự xuất sắc về phương tiện, lối tắt tâm linh trong số tất cả các lối tắt.

Một vấn đề quan trọng đối với việc tụng kinh của Đức Phật là hành giả phải giữ tâm thanh tịnh khi niệm, vì tâm thanh tịnh là yếu tố quyết định để đạt được trạng thái nhất tâm. Vì vậy, Tổ Ấn Quang nói: “Hành giả nên niệm câu Phật hiệu, tai nghe rõ, lòng nên niệm Phật, không đuổi trần, không ngừng khép tâm. Tu hành giả dối, đi sâu vào.” cảnh giới của chánh định. “Chánh định hay nhất tâm sẽ trở thành nền tảng cho sự bùng nổ của tuệ giác, theo Sư phụ Lưu:” Khi tâm chú tâm vào câu Phật hiệu, hãy quên thân và tâm bên ngoài, và vượt qua thời gian. và không gian, đó là thời gian. Tuyệt vọng hay tan biến. Tan biến, tâm trí sáng suốt, và hành giả có thể nhận ra Samadhi của Niệm Phật “.

Qua đại cương về ba yếu tố tín, nguyện và tu trong đạo Phật, chúng ta có thể thấy phương pháp này có phần đơn giản, dễ thực hành nhưng hiệu quả lại rất tốt. Phương pháp này là đi thuyền từ đập và nhập đạo Phật từ Wucaimen (Xuất hành từ đập Chibaofei và vào Xuanfodao Chi). Mức độ khó của việc tu tập được đánh giá bằng đức tính tốt: “Tu như con kiến ​​trèo ống tre, tu tịnh độ như con kiến ​​đập ống tre”.

Vì tính chất khế cơ, cho đến nay, không biết có bao nhiêu người niệm Phật được chứng quả vãng sanh. Bí ẩn ở Thánh địa Hiền nhân được ghi lại rõ ràng. Phương pháp này, từ thượng bồ tát, đại hiền sa môn, cho đến nhơn ác, thậm chí súc sinh, đều vì niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà lìa súc sanh, vãng sanh Cực Lạc.

Tại Việt Nam, pháp môn Tịnh độ nhanh chóng được du nhập và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ thứ 10, thiền sư Tinh lực (Thiền không lời) đã chứng Phật nhập tam muội. Cũng trong thế kỷ này, tướng Lee Thanh Dong đã cho dựng tượng Phật A Di Đà trên núi Lanka ở huyện Thiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Thiền sư Noro (mất năm 1141) đã cho dựng tượng A Di Đà trong chùa Quyển Lâm. Shao Yang Guosu (thế kỷ 13), người sáng lập ra trường phái Tăng Chân của Phật giáo Việt Nam, đã dạy các đệ tử của mình tu hành trong Tịnh độ bằng một bài học về phương pháp kỳ diệu “Pháp nhãn”. Zhulin Zong Xuanguang Tan cũng xây dựng một tháp trao đổi chín chân ở Puntata, khuyến khích bốn người cầu nguyện tái sinh. Trong thời hiện đại, có các nhà sư lỗi lạc Sanjing, nhà sư Qingying, nhà sư Hải, nhà sư Sanqiu, nhà sư Guanxin, v.v., những người thực hành và đề cao sự thanh tịnh. Pháp của Trái đất làm cho Phật pháp có thể. phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay.

Tôi nghĩ rằng trong trường hợp phước báo nhỏ và nghiệp chướng nặng, tất cả chúng sinh cần nương vào cửa Pháp nếu họ muốn đạt được giải thoát. Trong kinh “Kho tàng kinh”, Đức Phật dạy: “Thời mạt pháp có nhiều người tu, ít người thành Phật. Chỉ có niệm Pháp mới có thể thành Phật. Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi”.

Chẳng phải Pháp này là Pháp bí mật tuyệt diệu, thể hiện tình yêu thương cao cả của Đức Phật đối với tất cả chúng sinh trong những ngày cuối cùng, như trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật đã dạy: “Trong đời sau, khi Kinh này bị hủy diệt, với lòng từ bi, tôi sẽ trụ trì Kinh này trong một trăm năm, chúng sinh nào gặp được kinh này đều có thể được cứu độ như ý nguyện, đây là tình thương vô bờ bến của đức Phật Như các đệ tử của chúng ta, nếu chúng ta. đừng vội niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương, chúng ta đã phát nguyện rồi.

Câu hỏi ôn tập : 1-Những bài văn chính của giáo lý Tịnh độ là gì? 2- Những yếu tố nào của một người chân chính ở Cực Lạc? 3- Tin là gì? Thứ tư, thế nào là pháp môn Tịnh độ niệm Phật?

Xem thêm: Phiếu thu tiếng Anh là gì? Thu tiền tiếng Anh là gì?

Công khai: VUIHECUNGCHOCOPIE.VN là trang web Tổng hợp Ẩm Thực - Game hay và Thủ Thuật hàng đầu VN, thuộc Chocopie Vietnam. Mời thính giả đón xem.

Chúng tôi trân trọng cảm ơn quý độc giả luôn ủng hộ và tin tưởng!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *