Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các bài viết của Vuihecungchocopie.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "vuihecungchocopie". (Ví dụ: công thức giải rubik 3x3 vuihecungchocopie). Tìm kiếm ngay
11 lượt xem

Quyền tài sản là gì? Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 thì quyền tài sản được quy định cụ thể như sau:

Bạn đang quan tâm đến Quyền tài sản là gì? Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 thì quyền tài sản được quy định cụ thể như sau: phải không? Nào hãy cùng Vuihecungchocopie đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Quy định về Quyền sở hữu.

1. Quyền tài sản là gì?

Bạn đang xem: Quyen tai san la gi

Theo Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015, quyền tài sản được quy định như sau:

Quyền tài sản là quyền được định giá bằng tiền, bao gồm quyền tài sản, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác của các đối tượng sở hữu trí tuệ.

Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản là vật, tiền, công cụ chuyển nhượng và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

2. Phân loại quyền tài sản và khiếm khuyết, đề xuất

2.1. Quyền chủ thể và quyền con người

Theo cách thực hiện quyền chủ thể, quyền tài sản trong Bộ luật dân sự 2015 có thể được chia thành hai loại: quyền vật thể và quyền con người. Theo khái niệm Latinh, sự giàu có của một người bao gồm hai loại quyền: quyền tài sản – nghĩa là quyền được thực hiện đối với những thứ cụ thể và xác định; quyền nhân thân – bao gồm các quyền tương ứng với nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền. . Nói một cách khái quát, vật quyền là quyền của một chủ thể trực tiếp tác động vào một vật cụ thể mà không cần sự cho phép, hợp tác của các chủ thể khác. Quyền tài sản được thể hiện dưới dạng vật quyền trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể được chia thành quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền đối diện, quyền đối với tài sản bảo đảm liền kề; quyền của người bảo đảm đối với tài sản bảo đảm …

Xem thêm: Thuốc Tums điều trị bệnh gì?

Theo bản chất, quyền sở hữu ở các mức độ khác nhau (đầy đủ và không đầy đủ). Quyền tài sản toàn diện và đầy đủ nhất được BLDS 2015 ghi nhận là quyền sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm các quyền hợp pháp của chủ sở hữu về sở hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản (Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quyền sở hữu cho phép người nắm giữ tận dụng hết khả năng của tài sản để tạo ra giá trị vật chất và kinh tế. tài sản. Quyền định đoạt tài sản cuối cùng (thông qua mua bán, tặng cho, thừa kế, v.v.) thuộc về chủ sở hữu. Việc phát triển và sử dụng tài sản của chủ sở hữu luôn trong phạm vi do pháp luật quy định nhằm phục vụ lợi ích chung của xã hội và đất nước. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự quy định hạn chế (hạn chế chiều cao công trình) – bất động sản “phổ biến” ở sân bay, khu đô thị quy hoạch, gần lăng tẩm. (nhà 8b lê truc xây dựng thường xuyên bị cưỡng chế phá dỡ dù đã được phép). Quyền sở hữu cũng bị hạn chế trong một số trường hợp. Ví dụ, khi định đoạt tài sản đồng sở hữu, tài sản thuộc di tích lịch sử văn hóa phải được ưu tiên giao cho các đồng sở hữu còn lại hoặc nhà nước.

Từ góc độ thụ động, chủ sở hữu tài sản “quyền” không thực hiện quyền của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ sở hữu buộc phải sử dụng và định đoạt tài sản dù muốn hay không. Ví dụ, người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất, nếu đất không được sử dụng liên tục trong thời gian dài, kể cả sử dụng không đúng mục đích thì sẽ bị tịch thu mà không được bồi thường (Điều 64 và 82 Luật Đất đai 2013). >

Ngoài các quyền chủ thể hoàn chỉnh, cũng có các quyền đối tượng không hoàn chỉnh. Ví dụ điển hình về quyền vật chất không đầy đủ trong BLDS 2015 là quyền sử dụng (Điều 257), quyền bề mặt (Điều 267), quyền đối với bất động sản liền kề (Điều 245), quyền đối với bất động sản liền kề (Điều 245). Về tài sản bảo đảm (quyền của bên thế chấp đối với tài sản thế chấp, quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp). Thực chất của các quyền này là giải phóng quyền tài sản. Ở một mức độ nhất định, chủ sở hữu chuyển giao một số quyền đối với tài sản của mình cho chủ thể khác (chuyển quyền chiếm hữu, quyền sử dụng công dụng, hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong một thời hạn nhất định trong tương lai) thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, chủ sở hữu luôn có quyền định đoạt tài sản.

Đối lập với quyền tài sản là quyền cá nhân. Quyền con người dựa trên mối quan hệ giữa hai người và là hai chủ thể của một quan hệ pháp luật. Nói cách khác, quyền có đi có lại là quyền cho phép một người yêu cầu người khác đáp ứng nhu cầu của mình để đáp ứng nhu cầu của mình. Hay nhu cầu của cô ấy, một nhu cầu gắn liền với lợi ích vật chất, mối quan hệ giữa hai người còn được gọi là mối quan hệ về nghĩa vụ. Thực chất của quyền con người là quyền của chủ thể có quyền (bên có quyền) yêu cầu chủ thể khác (chủ nợ) thực hiện một hành vi nhất định, tức là quyền của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ. Thực hiện nghĩa vụ thông qua chủ nợ. Quyền tài sản điển hình trong các hình thức quyền con người được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm các khoản nợ, yêu cầu cấp dưỡng, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín …

2.2. Quyền tài sản có thể chuyển nhượng và không thể chuyển nhượng

Bản chất của quyền tài sản là hình thức của tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi Bộ luật dân sự 2015 công nhận quyền tài sản là chủ thể của giao dịch dân sự thì cần xác định rõ quyền tài sản nào có thể là đối tượng của giao dịch dân sự. Quyền tài sản của chủ thể giao dịch dân sự (có thể chuyển giao) không thể là đối tượng của giao dịch dân sự (không được chuyển nhượng). Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền có giá trị bằng tiền, bao gồm quyền tài sản, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ”. Rõ ràng, Bộ luật Dân sự 2015 không coi quyền tài sản nào được chuyển giao là chủ thể của giao dịch dân sự, quyền tài sản nào không chuyển giao được là chủ thể của giao dịch dân sự. Ở đây cần làm rõ hai câu hỏi: Thứ nhất, mọi quyền tài sản đều có thể là đối tượng của giao dịch dân sự? Thứ hai, chỉ những quyền tài sản cụ thể được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 hoặc Văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự 2015 mới có thể là chủ thể của giao dịch dân sự? ?

Trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định quyền tài sản được phép đặt bảo đảm là đối tượng của giao dịch bảo đảm: “Quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài chính, tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, cây trồng giống thuộc sở hữu của người bảo lãnh, quyền của chủ nợ, quyền bảo hiểm Quyền nhận tiền, quyền tài sản đầu tư của doanh nghiệp, quyền hợp đồng tài sản, quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, v.v. được sử dụng để đảm bảo hoạt động nghĩa vụ dân sự ”(Điều 322). Kế thừa Điều 379 khoản 3 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 377 khoản 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người bị thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm thì phải chịu nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường. Danh tiếng bất ngờ và các nghĩa vụ khác không thể chuyển giao cho người khác sẽ không được thay thế bằng các nghĩa vụ khác ”. Theo nghĩa rộng, quy định này chỉ hạn chế một số quyền tài sản không thể thay thế hoặc chuyển giao trong quan hệ bắt buộc, chẳng hạn như quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc uy tín, tín dụng, v.v. quyền tài sản cá nhân. Về nguyên tắc, chủ thể pháp luật dân sự có thể làm những việc mà pháp luật không cấm, nghĩa là Bộ luật dân sự 2015 cho phép chuyển giao một số quyền tài sản khác (ai là chủ thể của giao dịch dân sự). Ví dụ như quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền nhận tiền bảo hiểm …

2.3. Quyền tài sản được thực hiện trên những thứ hữu hình, quyền tài sản được thực hiện trên những thứ vô hình và quyền tài sản được thực hiện thông qua hành vi của con người

Theo đối tượng ảnh hưởng của quyền, quyền tài sản có thể được chia thành ba loại: quyền tài sản có đối tượng được thực hiện trên vật hữu hình (vật chất); quyền tài sản được thực hiện trên tài sản vô hình và quyền tài sản được thực hiện thông qua hành vi của con người .

Xem thêm: Cach trang tri phong cuoi o nong thon

Nhóm quyền tài sản được đối tượng của nó thực hiện trên các vật thể hữu hình, chẳng hạn như quyền sử dụng đất; quyền sở hữu là vật thể hữu hình; quyền sử dụng, quyền bề mặt … Nhóm quyền này có đặc điểm là cho phép chủ thể quyền thực hiện. mà không được sự giúp đỡ hoặc cho phép của chủ thể, thực hiện các hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến hữu hình nhằm thực hiện quyền này. Lưu ý ở đây đối tượng của vật quyền phải là vật hữu hình (đất đai, nhà cửa, xe máy, ô tô, máy tính …). Vì vậy, để có thể thực hiện quyền, chủ thể quyền luôn phải thực hiện hành vi chiếm hữu trên thực tế. Thực tế chiếm hữu tài sản ở một mức độ nhất định là hình thức chủ thể công khai quyền của mình cho bên thứ ba khi xác lập quyền đối với vật đó.

Một tập hợp các quyền tài sản để thực hiện các vật thể vô hình liên quan đến phát minh và hoạt động sáng chế, có thể được gọi là quyền phát minh, quyền giải pháp hữu ích, quyền tài sản, v.v. Tài sản là đối tượng của quyền tác giả … cũng giống như một tập hợp các quyền có mục đích và có thể được thực thi đối với một vật hữu hình, chủ thể quyền ở đây cũng có quyền tự mình hành động mà không cần sự đồng ý để thực hiện các quyền của mình hoặc giúp đỡ. khác. Tuy nhiên, khác với nhóm vật quyền đối với vật thể hữu hình, đối tượng vật quyền ở đây là “vật thể phi vật thể”. Điều này có nghĩa là việc thực hiện quyền của một chủ thể không nhất thiết phải chiếm hữu thực tế đối với tài sản. Đặc điểm này đòi hỏi việc công khai quyền của chủ thể quyền phải được thực hiện thông qua cơ chế đăng ký quyền của cơ quan có thẩm quyền quốc gia.

Nhóm quyền tài sản nhằm thực hiện nghĩa vụ của người khác: Các quyền tài sản trong nhóm này có thể gọi là quyền chủ nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo hợp đồng … Các đặc điểm cơ bản của nhóm quyền này của quyền là, Nếu chủ thể quyền muốn thực hiện được quyền của mình thì luôn cần sự “giúp đỡ” (thực hiện nghĩa vụ) của các chủ thể khác. có thể bắt buộc). Nếu con nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì chủ nợ không được vay.

2.4. Tiêu đề đã đăng ký và chưa đăng ký

Xác định quyền tài sản nào phải đăng ký và quyền nào không cần đăng ký, không chỉ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà còn theo các luật đặc biệt có liên quan, chẳng hạn như: quyền sở hữu trí tuệ; luật đất đai. Theo các văn bản này, các quyền tài sản phải đăng ký bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại cơ quan đăng ký đất đai hoặc cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, trường hợp chưa thành lập cơ quan đăng ký đất đai thì giải quyết tại một nơi. Theo quy định của UBND tỉnh, bộ phận một cửa tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý do Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện. Trong trường hợp không có quy định bắt buộc của pháp luật, có thể sử dụng phương pháp loại trừ. Các quyền tài sản khác với những quyền được liệt kê ở trên không cần phải đăng ký.

Có thể nói, việc đăng ký quyền tài sản có ý nghĩa rất lớn đối với nhà nước và các đơn vị liên quan. Đối với nhà nước, việc bắt buộc đăng ký quyền sở hữu giúp nhà nước quản lý việc lưu thông các quyền tài sản này trong xã hội. Ngoài ra, giúp nhà nước hoạch định các chính sách thuế có liên quan (thuế thu nhập, thuế chuyển nhượng, phí đăng ký sang tên và các chi phí liên quan khác). Trong hợp đồng có chủ thể là quyền tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, và thông thường pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực. Thời điểm hoàn tất việc đăng ký chuyển nhượng quyền là thời điểm chủ sở hữu mới có quyền “chống lại” bên thứ ba trong trường hợp có tranh chấp.

Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận hai quyền tài sản khác: quyền sử dụng và quyền bề mặt. Một mặt, tạo cơ sở pháp lý quan trọng, trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy giao lưu dân sự; bảo đảm tối đa hóa giá trị tài sản lưu thông dân sự, bởi vì không chỉ chủ sở hữu mà cả những người không phải là chủ sở hữu cũng có thể sử dụng các tài sản này. Mặt khác, nó còn là công cụ pháp lý hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực tế, hạn chế rủi ro pháp lý, duy trì sự ổn định của các mối quan hệ dân sự và các mối quan hệ khác có liên quan. Bộ luật Dân sự 2015 không bắt buộc các chủ thể phải đăng ký các quyền tài sản khác (bao gồm quyền sử dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề) với cơ quan nhà nước. Có quyền nghĩa là không có cơ chế công khai nào để thiết lập các quyền này cho các chủ thể khác trong xã hội. Đây có thể là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhiều tranh chấp dân sự liên quan trong tương lai. Vấn đề mà pháp luật dân sự Việt Nam đang gặp phải là cần thiết lập cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba chân chính tham gia giao dịch dân sự đối với tài sản đã đăng ký. bề mặt, hoặc quyền hạn chế để sử dụng nó.

Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng việc đăng ký tài sản nói chung hay quyền tài sản nói riêng hiện nay ở Việt Nam chưa được thực hiện nghiêm túc. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này như thủ tục hành chính rườm rà, lệ phí cao so với mức sống trung bình của người dân, và đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa tốt, đây là một thực tế khó bảo vệ quần chúng nhân dân. Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có tranh chấp liên quan.

Xem thêm: Nổi mẩn đỏ ngứa ở háng nam giới xử lý thế nào?

Công khai: VUIHECUNGCHOCOPIE.VN là trang web Tổng hợp Ẩm Thực - Game hay và Thủ Thuật hàng đầu VN, thuộc Chocopie Vietnam. Mời thính giả đón xem.

Chúng tôi trân trọng cảm ơn quý độc giả luôn ủng hộ và tin tưởng!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *